Tổng nhu cầu từ hai cảng nước sâu - là cảng có mớn nước sâu 12-15m, tiếp nhận được các tàu có sức chứa hơn 8.000 TEU - chiếm gần 30% nhu cầu cảng biển tại Việt Nam.

Theo khảo sát và tính toán của SSI, tổng nhu cầu từ cảng nước sâu của hai khu cảng Cái Mép Thị Vải ở miền Nam và Lạch Huyện ở miền Bắc đã chiếm đến 29% tổng nhu cầu cảng biển tại Việt Nam. Tỷ trọng này gia tăng rất nhanh nếu so với cách đây năm năm, con số này chỉ từ 9% trở xuống. 

SSI dự đoán nhu cầu sẽ tiếp tục tăng trưởng, dẫn số liệu Alphanliner cho thấy, hiện nay 77% lượng đặt đóng tàu trong hai năm tới là tàu có sức chứa hơn 10.000 TEU - chỉ các cảng nước sâu mới có khả năng tiếp nhận các tàu này.

SSI cũng lưu ý chưa có sự tăng trưởng mạnh trong hàng hóa lưu chuyển từ các khu công nghiệp ở Việt Nam và kỳ vọng điều này sẽ xảy ra trong vòng một đến hai năm nữa.

Theo thống kê của Tổng cục Hàng hải Việt Nam, trong sáu tháng đầu năm 2019, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 308,8 triệu tấn (không bao gồm sản lượng hàng hóa quá cảnh không bốc dỡ), tăng 13% so với cùng kỳ năm 2018.

Ước tính hiện cả nước có 281 bến cảng với tổng công suất đạt 550 triệu tấn/năm. Hàng rời như ngũ cốc, than, đồng, dăm gỗ…; container và hàng lỏng như dầu thô nhiên liệu là các mảng đóng góp phần lớn doanh thu hằng năm cho các cảng biển tại Việt Nam.

Hồi tháng 5 vừa qua, tại đại hội cổ đông, công ty cổ phần Gemadept (GMD) đã thông qua kế hoạch mở rộng đầu tư cảng. Một trong các dự án là xây dựng cảng nước sâu Gemalink Cái Mép ở Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 1 có tổng công suất 1,5 triệu TEU với vốn đầu tư khoảng 6.500 tỉ đồng. Gemalink dự kiến sẽ đưa vào khai thác vào từ quý III.2020.

Trước đó, báo cáo phân tích của công ty chứng khoán KIS Việt Nam cũng đánh giá cao tiềm năng của cảng Cái Mép Thị Vải và cảng quốc tế Lạch Huyện. Tuy nhiên, KIS lưu ý đang có sự phân hóa rõ rệt trong khu cảng Cái Mép vì chỉ có 3/20 cảng biển tại đây đang khai thác được 80-90% công suất thiết kế, gồm cảng quốc tế Cái Mép (CMIT), Tân Cảng Cái Mép (TCIT) và Tân Cảng – Cái Mép Thị Vải (TCTT).

Số còn lại hoạt động dưới công suất vì thiếu cơ sở hạ tầng đường bộ cho logictics sau cảng và thiếu chiều sâu, chiều dài cũng như trang thiết bị… cho cảng.

Theo quy hoạch tổng thể ngành cảng biển sửa đổi năm 2017 của Bộ Giao thông vận tải Việt Nam, tổng sản lượng hàng hóa của các cảng biển Việt Nam dự kiến đạt 869,6 triệu tấn vào năm 2020, tương đương mức tăng trưởng hàng năm 5-17% giai đoạn 2017-2020 và đạt 1.542 triệu tấn vào năm 2030 với mức tăng trưởng hàng năm 8,5% tính theo giai đoạn 2017-2030. 

Sản lượng xuất nhập khẩu hiện chiếm hơn 50% tổng sản lượng hàng hóa qua hệ thống cảng biển Việt Nam. Đây sẽ là động lực quan trọng cho sự phát triển tương lai của các cảng biển.

Theo KIS Việt Nam, các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang triển khai được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng 12-15% hàng năm về sản lượng hàng hóa qua cảng của Việt Nam trong các năm tiếp theo. Sự tăng trưởng chung của ngành có thể tiếp tục mạnh mẽ ít nhất cho đến năm 2020. 

Đọc thêm >>>
Gemadept: Nhà đầu tư tư nhân tiên phong trong ngành cảng biển
ACV: Khi người khổng lồ thức giấc
Chiến tranh thương mại biến ASEAN thành điểm thu hút đầu tư chế tạo
Thương mại điện tử đua đầu tư kho vận hậu cần
Logistics thương mại điện tử: Cơ hội cho người mới

"Chúng ta có thể bất chấp luật lệ của con người, nhưng không thể chống lại những quy luật tự nhiên". ---- Jules Verne - nhà văn

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 78 tháng 11.2019

 Số 78 tháng 11.2019

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - 25 NỮ DOANH NHÂN QUYỀN LỰC NHẤT CHÂU Á
  • - 400 NGƯỜI GIÀU NHẤT NƯỚC MỸ
  • - ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN - HẠ LONG THỨC GIẤC
  • - NHÀ GIAO DỊCH HÀNG ĐẦU PHỐ WALL