Trong 32 năm qua, kể từ Đại hội Đảng lần thứ sáu thông qua, Việt Nam đã lần lượt đón nhận những làn sóng đầu tư từ nước ngoài vào khai phá một thị trường mới.

Ba làn sóng FDI

Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam 32 năm qua có thể nói một trong những thành tựu ít gây tranh cãi nhất, đó là luật Đầu tư nước ngoài ra đời năm 1987, chỉ một năm sau đại hội Đảng lần thứ sáu với các quyết sách Đổi mới chưa từng có. Đó giống như một cánh cửa cho một dòng vốn đầu tư từ nước ngoài chảy vào theo quán tính “nước tìm chỗ trũng”. Bất chấp tỉ lệ lạm phát vào năm 1986 là 700% , ngay sau khi ban hành luật này, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) đã lên con số tỉ đô la Mỹ. Năm 1992, bà Mathilde Genovese, luật sư người Mỹ, chuyên tư vấn cho các nhà đầu tư quốc tế, nói với báo Saigon Times rằng: “Những con số thường chỉ là con số, nhưng đôi khi con số lại nói lên tất cả.” Bà tin rằng những tỉ đô la ban đầu sẽ khởi động một dòng vốn đáng mơ ước, nếu các nhà hoạch định chính sách Việt Nam táo bạo hơn trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Ba làn sóng FDI tại Việt Nam - ảnh 1

Ông Phạm Phú Ngọc Trai là nhà sáng lập và chủ tịch GIBC. Ảnh: Thomas Kuhlenbeck

Ở thời điểm 1987, Mỹ chưa bỏ cấm vận, nhưng sức hút của một vùng đất mới – một thị trường chưa khai phá – khiến các nhà đầu tư không ngần ngại đổ vốn vào. Trong ba năm đầu (1988 – 1990), Việt Nam thu hút trên 1,603 tỉ đô la Mỹ FDI. Năm 1996, sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, FDI vươn lên gần 10 tỉ đô la Mỹ, tạo ra “làn sóng FDI thứ nhất”. Các nỗ lực thu hút FDI thông qua cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch hơn, cũng như tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam tạo nên các làn sóng FDI kế tiếp. Báo cáo năm 2018 của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về đầu tư nước ngoài tại khu vực Đông Nam Á cho rằng, Việt Nam khá nỗ lực trong việc tạo điều kiện cho FDI phát triển trong vòng 20 năm qua hơn bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, và giờ đây Việt Nam là một trong những thị trường có ít rào cản về chính sách đối với FDI trong ASEAN.

Động lực tăng trưởng

Theo ông Lương Văn Tự, nguyên trưởng đoàn đàm phán WTO của Việt Nam, “trong suốt các thời kỳ khủng hoảng, Việt Nam là một trong 20 quốc gia có tăng trưởng dương. FDI giúp Việt Nam không rơi vào khủng hoảng kinh tế thế giới”. Có thể nói, FDI là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Nhờ xuất khẩu từ khu vực FDI, cán cân thương mại không những được cải thiện, mà còn tạo ra xuất siêu trong vài năm gần đây. Năm 2018, Việt Nam xuất siêu trên sáu tỉ đô la Mỹ, 2/3 con số đó thuộc về doanh nghiệp FDI. Ngoài đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế Việt Nam, khối FDI còn góp phần nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí, điện tử, viễn thông…

Theo bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), khối FDI đã giải quyết được việc làm cho 3,6 triệu lao động trực tiếp và 5 – 6 triệu lao động gián tiếp. Khối doanh nghiệp FDI còn giữ vai trò quan trọng trong việc trực tiếp đóng góp với tốc độ tăng năng suất lao động. Không chỉ giải quyết việc làm cho người lao động, hơn 30 năm qua, FDI còn đóng góp vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao, ban đầu chủ yếu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho hơn 20 ngàn doanh nghiệp FDI, về sau nguồn nhân lực này có xu hướng dịch chuyển từ doanh nghiệp FDI sang các tập đoàn, công ty có quy mô lớn và trung trong tổng số 500 ngàn doanh nghiệp Việt Nam. Đáng chú ý, phần lớn việc dịch chuyển diễn ra giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có định hướng phát triển bền vững trên cơ sở năng lực tổ chức hiệu quả và chuyên nghiệp. Các tổng công ty nhà nước lớn, tuy cần nguồn nhân lực này, nhưng do vướng cơ chế, không dễ dàng tiếp nhận được, nhất là ở các vị trí quản lý cấp cao. Chính vì vậy, các cải cách thể chế gần đây về khu vực tư nhân, sẽ hoàn thiện các điều kiện cho dòng nhân sự này di chuyển dễ dàng từ khu vực FDI sang khu vực tư nhân và đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu và thực tế hơn.

Chúng ta luôn đánh giá cao những tiêu chuẩn chuyên nghiệp và nghiêm khắc để đào tạo và tuyển nhân sự tại các doanh nghiệp FDI. Tính hiệu quả của một công ty chủ yếu từ nguồn nhân lực với năng suất lao động được đòi hỏi cao. Cho nên vấn đề không phải là số việc làm mà các công ty FDI giải quyết, mà chính là chất lượng đào tạo lao động. Hạn chế và khó khăn Những hạn chế của FDI không phải lúc nào cũng giống nhau, nếu nhìn từ phía nước chủ nhà và phía các nhà đầu tư. Theo bộ trưởng bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng, hạn chế đang tồn tại trong thu hút FDI khi tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện mới đạt khoảng 55,5%, nghĩa là có tới gần ½ tổng vốn đầu tư đăng ký nhưng chưa được thực hiện. “Một số doanh nghiệp FDI chưa tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, một số trường hợp đã gây ra sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.” Sự kiện Formosa tại Hà Tĩnh, hoặc Vedan tại Đồng Nai như “một gáo nước lạnh” giội lên niềm hi vọng về FDI ở thời điểm đó và là lời cảnh tỉnh cho tương lai.

Hạn chế khác là số doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng tạo nên giá trị và sự tăng trưởng đối với kim ngạch xuất khẩu nổi bật của FDI vẫn còn rất khiêm tốn! Trong khi đó, ông Hironobu Kitagawa, trưởng đại diện văn phòng Jetro Hà Nội, cũng phản ánh các khó khăn, phiền nhiễu mà doanh nghiệp FDI gặp phải khi đầu tư vào Việt Nam. Theo vị này, bỏ vốn vào Việt Nam gặp một số rủi ro kinh doanh như chi phí nhân công cao, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận dụng pháp luật chưa rõ ràng, tính phức tạp trong thủ tục hành chính, thuế quan... Theo chúng tôi, nếu xem luật Đầu tư nước ngoài 1987 (và các sửa đổi, bổ sung) là liều thuốc mạnh của nền kinh tế, thì tất cả các hạn chế (dù đau đớn nhất như Formosa) là “phản ứng phụ không mong muốn.”

FDI hay không FDI?

Có một số phản đề cho rằng: Việt Nam không nên và không cần tiếp nhận FDI trong giai đoạn sắp tới, vì một số hạn chế của khu vực FDI và nội lực trong nước đã đủ mạnh. Theo chúng tôi, phản đề này không phải bắt nguồn từ các điểm yếu kém của FDI, cũng không phải từ thua thiệt lợi ích, mà chính là từ tư duy. Kênh truyền hình kinh tế có ảnh hưởng khu vực CNBC mới đây cho rằng Việt Nam không có lợi thế của một nền kinh tế đất liền rộng lớn như Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng bài học của Việt Nam (cho các nước đang phát triển khác, nhất là các nước châu Á) lại dễ áp dụng hơn nhiều. Đó là, Việt Nam đã thành công trong việc vượt qua rào cản tâm lý tự ti, mặc cảm về trình độ công nghệ lạc hậu của mình. Việc áp dụng tự động hóa trong các nhà máy FDI và các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng gợi mở hướng dịch chuyển từ nền sản xuất dựa vào thâm dụng lao động, chi phí rẻ sang sản xuất ở các công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Điểm yếu của “công nghiệp phụ trợ” hay “kết nối”, “lan tỏa” giữa FDI và doanh nghiệp nội địa không phải lỗi của các doanh nghiệp FDI. Rất may, chính phủ đã không áp đặt, dù nhận ra rất rõ điểm yếu cốt tử này. Chủ động chọn lựa Theo Raymond Mallon, chuyên gia kinh tế cao cấp chương trình Cải cách kinh tế Việt Nam – Úc, “Việt Nam cần phải đẩy mạnh cải cách, với việc tập trung mạnh mẽ vào việc dỡ bỏ các rào cản đối với các mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, các chuỗi giá trị toàn cầu và thị trường toàn cầu. Với những chính sách đúng đắn, FDI có thể giúp Việt Nam tăng cường hơn nữa sức cạnh tranh trên trường quốc tế.” Người đứng đầu của chính phủ Việt Nam đã đặt vấn đề phát triển FDI theo hướng hợp tác mạnh giữa tư nhân trong nước và các nhà đầu tư FDI. Khi khối doanh nghiệp tư nhân phát triển đủ mạnh, có năng lực về công nghệ, sản xuất tương ứng, mới có thể hình thành nên mối quan hệ hợp tác hiệu quả giữa hai khối tư nhân và FDI trên nguyên tắc “hai bên cùng thắng”(win – win).

Chúng tôi cho rằng, thu hút FDI phải được tiếp tục dựa trên cấu trúc hợp lý của nền kinh tế phát triển bền vững, trong đó, để kinh tế tư nhân trở thành mũi nhọn đối với sự phát triển của nền kinh tế, thực sự chúng ta cần phải có những bước đột phá kể cả về tư duy và thể chế. Kinh tế tư nhân phải đóng góp tích cực trong nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI, để nâng cao hiệu quả kinh tế cho đất nước. Tuy nhiên, các thể chế, luật lệ của chúng ta vẫn còn phải theo hướng hỗ trợ và thân thiện với doanh nghiệp tư nhân hơn nữa, mới mong đạt được tăng trưởng bền vững như chúng ta mong muốn. Với một lịch sử hơn 30 năm, vượt muôn vàn rào cản, trong đó rào cản lớn nhất là tư duy đổi mới, khu vực FDI đã thực sự là các tế bào sống của cơ thể Việt Nam. Khi chúng ta yếu chúng ta kêu gọi đầu tư nước ngoài, và bây giờ, dù chưa mạnh, nhưng đã hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, thì chúng ta cần kêu gọi FDI hơn, vì giờ đây, các giá trị sẽ thực hơn khi chúng ta được thêm nhiều tự do chọn lựa.

"Lời khuyên là cái ta muốn có khi ta đã biết câu trả lời mà ta không muốn nghe.". ---- Erica Jong (Tiểu thuyết gia)

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 66 tháng 11.2018

 Số 66 tháng 11.2018

THÀNH PHỐ THÔNG MINH

TỪ CAO ỐC XANH, GIAO THÔNG THÔNG MINH

ĐẾN ĐÔ THỊ ĐÁNG SỐNG

*DANH SÁCH FORBES 400 * HỘI NGHỊ PHỤ NỮ FORBES VIETNAM

Các số báo khác