"Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục Việt Nam trong thời điểm này là lựa chọn định hướng phù hợp và đúng đắn cho giáo dục Việt Nam khi chất lượng của nguồn đào tạo trong nước chưa đáp ứng được thay đổi của nền kinh tế..."

Phiên thảo luận với chủ đề “STEM hay giáo dục khai phóng” thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục, những người quan tâm tới sự phát triển giáo dục Việt Nam trong thời gian tới, với sự tham dự của các diễn giả:

Tiến sĩ Phạm Quốc Lộc (nhà sáng lập trung tâm Language Plus Academix.

Tiến sĩ Ðàm Quang Minh (hiệu trưởng đại học Thành Tây)

Bà Ðàm Bích Thủy (hiệu trưởng đại học Fulbright)

Ông John Laxon (giám đốc khu vực Nam Á, Ðông Nam Á và Trung Ðông của Giáo dục New Zealand).

Bà Ðào Thu Hiền, (CEO của GPA Education) điều phối.

Khai phóng và STEM - ảnh 1
 Phiên thảo luận chủ đề "STEM hay giáo dục khai phóng"

Ở đầu phiên thảo luận, bà Ðào Thu Hiền đưa ra nhận định nhiệm vụ quan trọng của giáo dục Việt Nam trong thời điểm này là lựa chọn định hướng phù hợp và đúng đắn cho giáo dục Việt Nam khi chất lượng của nguồn đào tạo trong nước chưa đáp ứng được thay đổi của nền kinh tế. Các nhà tuyển dụng đánh giá, sinh viên ra trường chưa sẵn sàng cho công việc do thiếu kỹ năng, thiếu khả năng giải quyết vấn đề và có ít trải nghiệm thực tế.

Ðào Thu Hiền: Có hai hình thức mà chúng tôi nghe đến nhiều nhất là STEM và hình thức giáo dục khai phóng. Chị có thể tóm tắt ngắn gọn bản chất của hình thức này là như thế nào, nó có khác gì với hình thức giáo dục tại Việt Nam từ trước đến giờ?

Ðàm Bích Thủy: Từ trước đến nay có sự hiểu chưa đúng lắm về giáo dục khai phóng (Libertal arts). Có nhiều người cho rằng libertal arts tức là các môn nghiêng về nghệ thuật, nhân văn. Tuy nhiên theo chúng tôi hiểu đây là một phương pháp học, một triết lý giáo dục. Ðây là hình thức học hướng đến việc đào tạo những con người tự do.

Hầu hết giáo dục ở châu Á tập trung vào kỹ năng, tức là đào tạo chuyên ngành rất hẹp, đặc biệt ở Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Singapore. Tuy nhiên, đại học hàng đầu Nhật Bản là đại học Tokyo luôn luôn ưu tiên và kiên trì với phương pháp học khai phóng trong suốt 30 năm. Ðó có lẽ là điều giúp cho trường đại học này duy trì vị thế hàng đầu dù phương pháp hay môn học có thay đổi như thế nào. Ðó là lý do chúng tôi chọn đối tác để làm hội thảo về giáo dục khai phóng. Chúng tôi muốn chứng minh rằng giáo dục khai phóng không chỉ là mô hình của Mỹ. Thật ra, đây là triết lý có từ thời Hy Lạp cho đến thời La Mã. Nhưng có lẽ Mỹ là nước duy trì được phương pháp khai phóng lâu nhất. Có một số giáo sư cho rằng, cách đây khoảng 20 năm Việt Nam từng có ý định tiếp cận với giáo dục khai phóng. Ðiều này đã duy trì được một thời gian nhưng vì nhiều lý do khác nhau về kỹ thuật và tư tưởng, khiến phương pháp này không được triển khai rộng. Tôi hi vọng phương pháp tiếp cận sẽ quay trở lại trong thời gian tới.

Ðào Thu Hiền: Ðược đào tạo trong giáo dục khai phóng tại Mỹ, ông Lộc có nhận định như thế nào?

Phạm Quốc Lộc: Theo tôi, đây là hình thức vừa mới, vừa không mới ở Việt Nam. Nếu đọc những tài liệu giảng dạy trước năm 1975 cho đến gần đây của một số trường đại học, chúng ta thấy thực chất triết lý khai phóng đã được áp dụng từ lâu. Tuy nhiên do có lúc phải đáp ứng nhu cầu lao động rất cụ thể, kỹ năng rất cụ thể cho nên giáo dục đại học chuyển sang hướng đào tạo nghề hơn.

Tôi nghĩ, giáo dục khai phóng là một triết lý đào tạo, nên nó rất bao quát. Do đó, cách thức tổ chức môi trường đào tạo, phương pháp giảng dạy không chỉ là truyền kiến thức từ người đã biết cho người chưa biết mà đòi hỏi chúng ta phải hiểu rất rộng khái niệm học và dạy. Theo tôi, bản chất giáo dục đại học phải là giáo dục khai phóng.

Ðào Thu Hiền: Vậy STEM là gì và phương pháp này là như thế nào?

Ðàm Quang Minh: STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). Bản thân nội hàm liên quan đến kỹ thuật công nghệ. Khi thế giới chuyển sang cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì có sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động. Nhu cầu về nghề liên quan đến khoa học kỹ thuật tăng đột biến. Ðặc trưng của cuộc cách mạng 4.0 là tích hợp giữa các mảng nghiên cứu, chẳng hạn không đơn thuần là khoa học máy tính mà còn sử dụng các kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau, ví dụ như sinh học, giao thông, để tạo ra sản phẩm thông minh khác nhau. Khi những lĩnh vực đó được tích hợp như vậy dẫn đến việc thiếu hụt lao động. STEM ra đời nhằm tạo nguồn nhân lực ngay từ bé để đủ sức lĩnh hội những kiến thức.

Theo nghiên cứu của đại học Oxford, 47% số việc làm ngày nay sẽ biến mất và ảnh hưởng nghiêm trọng. Công việc mới sẽ được sinh ra sẽ chủ yếu liên quan đến STEM.

Khi cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tuyển lao động, hầu hết các đại học ở Mỹ đều không đáp ứng được nhu cầu. Nếu chúng ta không bám sát vào thực tiễn của xã hội công nghệ thì nguồn lao động sẽ không đủ sức đáp ứng được nhu cầu phát triển trong tương lai, thậm chí là làm chậm quá trình phát triển. Phong trào STEM xuất phát từ các nước phát triển. Nhu cầu nhân lực STEM ở các nước phát triển lớn hơn nhiều so với Việt Nam. Tôi cho rằng, tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần giáo dục khai phóng nhiều hơn so với STEM...

Ðào Thu Hiền: Vậy những phương pháp này như thế nào tại New Zealand?

John Laxon: Chúng ta đang bàn rất nhiều về STEM và giáo dục khai phóng. Tại New Zealand, các ngành giáo dục về STEM có mối quan hệ mật thiết với các công việc liên quan đến khoa học kỹ thuật.

Các môn học liên quan đến khoa học, kỹ thuật rất mạch lạc, rõ ràng. Khi học ngành này thì người học cần sự chuyên sâu và kéo dài suốt cuộc đời. Giáo dục khai phóng liên quan đến tư duy và doanh nhân. Vấn đề này tạo ra nhiều tranh cãi. Ngày nay xã hội đã thay đổi, công nghệ phát triển, toàn cầu hóa, tự động hóa. Nghề nghiệp khác nhau có những khuôn mẫu cứng nhắc suốt đời cho nên cũng cần học cách sống và làm việc như của giáo dục khai phóng.

Khai phóng và STEM - ảnh 2

 Từ trái sang phải: bà Ðào Thu Hiền - CEO của GPA Education; tiến sĩ Phạm Quốc Lộc (nhà sáng lập trung tâm Language Plus Academix); bà Ðàm Bích Thủy (hiệu trưởng đại học Fulbright).

Ðào Thu Hiền: Theo quý vị, ở Việt Nam, nhà trường đang tiếp cận với hai phương pháp này như thế nào?

Phạm Quốc Lộc: Giáo dục khai phóng không chỉ là những môn về nghệ thuật và nhân văn, mà nó nhắm đến phát triển một con người toàn diện, có năng lực học suốt đời, để thích ứng với những điều thay đổi. Học tập để có thể làm được những công việc mà bây giờ có thể chưa biết nó là gì. Người được tôi luyện trong môi trường giáo dục khai phóng về mặt lý thuyết phải có được nguồn năng lực thích ứng. Ðể có thể thích ứng thì họ phải là những người học rộng, trong đó có cả những môn như văn học, văn hóa, nghệ thuật, những môn về khoa học xã hội và những môn về khoa học tự nhiên. Theo tôi, STEM không phải là phần đối lập của giáo dục khai phóng, mà phải làm sao vẫn đào tạo STEM để tạo ra những con người có năng lực, tạo sự tò mò để họ có thể tiếp tục học và trở thành khái niệm ngày càng phổ biến như công dân toàn cầu.

Ðào Thu Hiền: Liệu Việt Nam có đang đi chậm quá hay không, chúng ta làm thế nào để có thể bắt kịp thế giới?

Ðàm Bích Thủy: Chúng ta không phải tìm cách chứng minh khai phóng là chân lý hay STEM là lựa chọn duy nhất, hay thậm chí là tiếp tục đi theo con đường mà Việt Nam vẫn làm từ xưa đến nay. Ðến lúc 17 tuổi, học sinh phải tự quyết định mình muốn làm gì, muốn học gì tiếp. Theo tôi, không có hình thức nào có thể phù hợp với 100% học sinh. Do đó tôi cho rằng quan niệm một phương pháp có thể phù hợp với tất cả học sinh, có thể áp dụng với tất cả học sinh là một điều sai lầm. Các em nên có sự lựa chọn. Phụ huynh đôi khi cũng thắc mắc con mình sẽ học chuyên ngành gì. Sự thật thì trong hai năm đầu không có chuyên ngành gì. Học sinh sẽ học mọi thứ, tự tìm hiểu xem đam mê của mình là gì.

Giáo dục khai phóng sẽ dạy cho các cháu ba thứ. Thứ nhất là tư duy. Ðể tư duy tốt cần có khả năng viết tốt. Bởi vì sẽ không có cách nghĩ nào rõ ràng và mạch lạc nếu chúng ta không viết ra được. Thứ hai là khả năng nói chuyện, diễn giải, trình bày ý kiến của mình một cách rõ ràng. Thứ ba là khả năng học suốt đời. Tôi cũng là một phụ huynh nên tôi hiểu nhiều người có khái niệm học cho xong việc. Tuy nhiên đây là suy nghĩ sai lầm. Bởi việc học là không dừng lại mà chắc chắn mỗi người sẽ phải học suốt đời. Phương pháp giáo dục khai phóng sẽ đem lại cho các em điều đó. Tức là nó luôn gợi cho các em sự tò mò lành mạnh. Chính sự tò mò đó sẽ giúp các em có khả năng học suốt đời. Từ đó các em có khả năng thích ứng với những sự thay đổi trong cuộc sống. Cho dù máy móc có đuổi hết các nhân viên kiểm toán, luật sư thì chúng ta có khả năng thích ứng với sự thay đổi đó và vẫn trở thành con người có ích trong xã hội.

Ðàm Quang Minh: Có một vấn đề là các bạn sinh viên phải học ngay để đáp ứng nhu cầu lao động sau khi ra trường nhưng cách đó làm cho các bạn đi không bền. Chúng ta đều biết rằng một ngành công nghệ thông tin có thể có mười ngành nhỏ. Trải nghiệm ngày nay nâng lên một bậc nữa là trải nghiệm trong môi trường quốc tế. Tôi cho rằng các trường đại học bây giờ sẽ theo hướng giáo dục phải khai phóng.

Ðào Thu Hiền: Kế hoạch của đại học Fulbright cho sinh viên của mình trải nghiệm như thế nào?

Ðàm Bích Thủy: Ðiều quan trọng là các em muốn trải nghiệm như thế nào? Cho đến nay chúng ta vẫn chỉ hiểu việc trải nghiệm là đi thực tập hay tham gia trao đổi quốc tế. Tuy nhiên có nhiều trải nghiệm mà chúng ta xem thường nó. Ví dụ như cùng sống chung với tập thể có hoàn cảnh hay xuất thân khác mình trong môi trường học tập. Trải nghiệm khi học tập ở nước ngoài là các bạn phải sống chung với người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Như vậy làm thế nào có thể sống chung, quan tâm, hòa hợp với tập thể đó. Một trải nghiệm khác là khi trên lớp sinh viên tương tác với giáo sư như thế nào. Bởi vì từ xưa đến nay chúng ta vẫn cho rằng thầy giáo, giáo sư là người cho kiến thức. Nhiệm vụ của các em là chép cho kỹ, lĩnh hội cho tốt. Do đó sinh viên Việt Nam ít có trải nghiệm được chất vấn thầy cô giáo. Các em nghe thầy giáo trình bày bài giảng và sau đó chất vấn lại thầy giáo. Ðó là những trải nghiệm vượt qua những điều thông thường. Từ đó các em đi làm việc hay đi ra nước ngoài đều cảm thấy dễ dàng. Ðào tạo được phẩm chất của con người thì đấy là vấn đề chúng tôi quan tâm.

Ðào Thu Hiền: Xin ông vui lòng cho biết New Zealand áp dụng các phương pháp giáo dục này như thế nào?

John Laxon: Hiện nay, sinh viên từ 140 quốc gia đến New Zealand du học. Trong đó, lượng sinh viên Việt Nam đến New Zealand tăng lên 17% trong năm nay. Chúng tôi có nhiều cách khác nhau để hệ thống giáo dục của chúng tôi bền vững hơn. Thực ra, ở New Zealand chúng tôi không tranh cãi nhiều về giáo dục khai phóng hay STEM vì các kỹ năng hay thái độ, tư duy sáng tạo, kỹ thuật được lồng ghép một cách hài hòa trong các môn học, chương trình đào tạo. Do đó sinh viên không cần chọn theo các ngành giáo dục khai phóng hay các ngành kỹ thuật. Kết quả cho thấy đó là sự kết hợp hài hòa.

Ðào Thu Hiền: Chỉ trong 4 - 5 năm nhưng có quá nhiều thứ cần phải học, vậy sinh viên cần nhất điều gì cho những năm tới đây?

Phạm Quốc Lộc: Tôi hay nói với sinh viên của mình là thời gian thì chỉ có như vậy nhưng xã hội ngày càng đòi hỏi ở chúng ta nhiều. Danh sách kỹ năng đòi hỏi ngày càng dài, thậm chí như ở Mỹ sinh viên không chỉ là tiếng Anh mà càng nhiều ngoại ngữ càng tốt. Do đó, chúng ta cần thay đổi quan điểm, học không chỉ diễn ra trên lớp với người thầy mà còn ở môi trường bên ngoài, hay thậm chí khi trên lớp, tương tác giữa thầy và trò nó cũng phải khác đi. Khi ở đại học Hoa Sen, chúng tôi tạo ra môi trường học mà ở đó cả thầy và trò đều tham gia. Không phải người thầy chỉ biết giảng bài mà còn tạo ra đề án, trong đó có sự tham gia của cả thầy và trò. Từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu năng lực ngày càng cao màthời gian thì vẫn như thế.

Ðào Thu Hiền: Các diễn giả khác có bổ sung gì thêm?

Ðàm Bích Thủy: Tôi rất tán thành ý kiến của ông Lộc. Quan điểm của chúng tôi là chúng ta không thể là một đầu bếp giỏi nếu chúng ta chỉ đọc sách dạy nấu ăn, hay kỹ năng nấu ăn. Chúng ta vẫn có thể tạo ra những món ăn nhưng chưa chắc đã có chất lượng tốt. Và chúng ta phải trực tiếp vào bếp để xử lý những hỗn độn, thách thức thực tế.

Chúng ta không nên quan tâm quá vào việc học được gì qua bốn năm mà cách học và cách tư duy, theo tôi, là điều quan trọng hơn. Học không chỉ bó gọn trong bốn năm mà suốt cuộc đời người học. Vấn đề quan trọng nhất trong bốn năm đó có thể xây dựng được tình yêu của các em đối với kiến thức, cũng như trải nghiệm sau này có thể theo các em, giúp các em tiếp tục học tiếp, và thích nghi với xã hội thay đổi không ngừng.

Khai phóng và STEM - ảnh 3

 Ông John Laxon (giám đốc khu vực Nam Á, Ðông Nam Á và Trung Ðông của Giáo dục New Zealand); tiến sĩ Ðàm Quang Minh (hiệu trưởng đại học Thành Tây)

Ðàm Quang Minh: Tôi thấy giáo dục Việt Nam đang có vấn đề rất lớn. Sinh viên không khó khăn lắm để ra trường. Tỉ lệ sinh viên không hoàn thành chương trình học rất thấp. Về cấu trúc chương trình, có nhiều thứ mà chúng ta đáng ra phải hoàn thành, ví dụ có thời lượng học tiếng Anh lớn nhưng các môn giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng trong chương trình học khá lớn. Theo tôi, sinh viên không cần dành thời gian nhiều cho những nội dung như vậy. Việc hoàn thành các chương trình học đối với các sinh viên khá dễ dàng. Tuy nhiên phần lớn các bạn quên đi bài giảng ngay sau khi kết thúc tiết học. Nguyên nhân chính là do phương pháp học. Do đó chuyện các bạn ra trường không làm được việc là chuyện dễ hiểu, mà làm được việc mới là chuyện lạ.

Mấu chốt vấn đề là thay đổi được cách học, ví dụ như đổi cách đánh giá thì việc học cũng sẽ khác. Thay vì đánh giá kết quả cuối cùng, chúng ta có thể đánh giá qua quá trình. Như cách của ông Lộc nói, tập trung chủ yếu vào trải nghiệm của người học. Trong quá trình học các bạn phải cảm nhận được mình đã thất bại như thế nào. Các bạn phải vượt qua những khó khăn của vấn đề của môn học và được phản ánh qua cuộc sống, công việc như thế nào.

Thống kê của bộ Giáo dục - Ðào tạo, giai đoạn 2011 - 2016 ghi nhận lượng tăng lên đáng kể của sinh viên du học, đạt 130 ngàn sinh viên vào năm 2016. Tất nhiên việc du học nước ngoài sẽ đem lại nhiều trải nghiệm. Nếu những nhà giáo dục tại Việt Nam không đau đáu, không đưa ra được cách tiếp cận khác thì tình trạng du học sẽ tiếp diễn.