Trong bối cảnh thoái vốn nhiệt điện than đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, Việt Nam được cảnh báo đối mặt với nguy cơ bị mắc kẹt vào tổn thất kép cả về tài chính và môi trường, nếu định hướng năng lượng vẫn chủ yếu dựa vào nhiệt điện than. 

“SÓNG” THOÁI VỐN NHIỆT ĐIỆN THAN. Một cảnh báo mới về các thị trường vốn toàn cầu được cựu thống đốc ngân hàng Anh Mark Carney đưa ra mới đây, dự báo về “cơn sóng thần” tổn thất tài sản do bị mắc kẹt bởi nhiên liệu hóa thạch. Khả năng lên tới 20.000 tỉ USD nếu thế giới không tuân thủ Thỏa thuận Khí hậu Paris.

Việt Nam trước sức ép thoái vốn nhiệt điện than - ảnh 1

Drax từng là nhà máy nhiệt điện than lớn nhất châu Âu, đang chuyển đổi sang cung cấp năng lượng sinh khối vào năm 2021. Ảnh: Christopher Furlong/Getty Images

Trong hai năm qua, cơn lũ thoái vốn khỏi nhiên liệu hóa thạch từ các tổ chức tài chính châu Âu được ghi nhận rất rõ ràng. Tính đến năm 2020, số ngân hàng, công ty bảo hiểm và nhà quản lý/chủ sở hữu tài sản trên toàn cầu đã công bố hạn chế đầu tư vào nhiệt điện than tăng 50%, với 21 tổ chức.

Năm nay, công ty quản lý tài sản lớn nhất thế giới BlackRock đã đưa ra một tuyên bố mang tính bước ngoặt: sẽ thoái các khoản đầu tư khai thác nhiệt điện than ra khỏi các quỹ trị giá 1.800 tỉ USD của họ.

Động thái mới nhất của Citi hồi tháng 4.2020 với công bố sẽ không cung cấp tài chính cho các dự án phát triển mỏ than nhiệt mới, hoặc mở rộng đáng kể các mỏ hiện tại. Citi đặt mục tiêu ngưng cung cấp tài chính cho các công ty khai thác mỏ có ≥25% doanh thu từ khai thác than nhiệt (trước đây là 50%). Đến cuối 2025, Citi sẽ giảm một nửa mức tài trợ tín dụng cho than đá so với mức cơ sở năm 2020 và sẽ xuống bằng 0 vào năm 2030.

Sau tuyên bố về chính sách rút khỏi điện than của công ty ABSA của Nam Phi, hiện đã có 127 tổ chức tài chính toàn cầu đã công bố chính sách rút khỏi điện than.

Năm 2020 các ngân hàng châu Á cũng theo xu hướng thoái vốn khỏi nhiên liệu hóa thạch. Các ngân hàng Singapore trước đây là những nhà tài trợ vốn đáng kể cho lĩnh vực nhiệt điện than như UOB, DBS và OCBC đều dừng đầu tư vào nhiệt điện than từ 2019, trừ các giao dịch đã cam kết.

Tháng 4 năm nay chứng kiến các tổ chức tài chính Nhật rút khỏi điện than. Ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) và tập đoàn tài chính Mizuho đều công bố ngừng cung cấp tài chính cho các nhà máy điện đốt than mới. Là nhà tài trợ tư nhân lớn nhất thế giới của các nhà đầu tư phát triển nhiệt điện than, quyết định từ Mizuho đặc biệt đáng chú ý.

Chính sách của hai ngân hàng này được xem thực hiện cam kết của Bộ trưởng Môi trường Shinjiro Koizumi trong việc hạn chế cung cấp tài chính xuất khẩu cho nhiệt điện than từ vốn ngân sách của Nhật. Những tuyên bố này theo sau một loạt các thông báo rút khỏi đầu tư mỏ than và nhà máy nhiệt điện than của các tập đoàn Nhật, như Marubeni Corp, Mitsubishi, Mitsubishi Materials, Mitsui & Itochu, và mới nhất là Sojitz.

Cũng như Nhật Bản, các quỹ đầu tư công của Hàn Quốc từ lâu đã hình thành nền tảng cung cấp tài chính cho các nhà máy điện than mới ở Đông Nam Á. Thế nhưng, việc tài trợ cho một số giao dịch than ở nước ngoài của Hàn Quốc gần đây đã dẫn đến thiệt hại hàng trăm triệu đô-la Mỹ.

Mới nhất là vào tháng 4.2020, một khoản cứu trợ trị giá 825 triệu USD cho tập đoàn Doosan Heavy Industries được cung cấp bởi Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM). Trước đó, Kepco bị buộc phải xóa sổ 642 triệu đô la Úc trong một dự án than thất bại ở thung lũng Bylong của Australia. 

Trong khi đó tại Indonesia, nhà điều hành điện lực Indonesia PT Perusahaan Listrik Negara (PLN) đang khó khăn do gánh nặng nợ cao cộng với dư thừa công suất. Theo phân tích của Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích tài chính (IEEFA), đến 2021, các khoản thanh toán cho các nhà máy điện than độc lập sẽ là chi phí lớn nhất của PLN, ước lên tới 7,2 tỉ USD. Điều này, theo IEEFA, là rủi ro tài sản bị mắc kẹt đang trở thành hiện thực.

Giữa bối cảnh trên, dữ liệu từ tổ chức Giám sát năng lượng toàn cầu (Global Energy Monitor) cho thấy, số dự án điện than dự kiến xây dựng ở Đông Nam Á tiếp tục giảm 22% trong năm 2019.

VIỆT NAM TRONG THẾ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN. Các khuyến nghị rút vốn khỏi nhiện điện than hiện không chỉ riêng ở khía cạnh đạo đức xã hội, hay các cam kết chính sách nhằm phù hợp với Thỏa thuận Khí hậu Paris, mà còn từ lăng kính kinh tế rất rõ ràng. Việc thoái vốn này được các chuyên gia kinh tế và nhà khoa học đánh giá là "yếu tố tự thân, mang tính nhu cầu tự nhiên và có lợi về mặt tài chính."

Việt Nam trước sức ép thoái vốn nhiệt điện than - ảnh 2

Nhà máy điện than Kemper Clean tại bang Mississippi, sau 7 năm đầu tư 7 tỉ USD, đã quyết định chuyển đổi thành nhà máy điện khí tự nhiên. Ảnh: Forbes.com

Theo Báo cáo phân tích của nhóm chuyên gia quốc tế từ Carbon Tracker Initiative công bố hồi tháng 3 cho thấy: chi phí sản xuất điện quy dẫn (LCOE) ở năng lượng tái tạo mới rẻ hơn nhiệt điện than mới ở tất cả các thị trường lớn hiện nay.

Tại Việt Nam, thực tế cả điện mặt trời và điện gió trên bờ đều có mức chi phí giảm ấn tượng trong bốn năm qua, tương ứng 100% và 30%. Phân tích của Carbon Tracker Initiative, nếu xu hướng giảm này tiếp tục thì trong tương lai gần đầu tư mới vào năng lượng tái tạo sẽ rẻ hơn so với vận hành các nhà máy điện than.

Theo Carbon Tracker Initiative, Việt Nam hiện có chi phí điện than tương đối cao dù chưa tính giá carbon và rất ít quy định về ô nhiễm không khí. Nếu áp dụng giá carbon tương đương với hệ thống mua bán khí thải châu Âu và thực hiện các quy định về ô nhiễm không khí tương tự các quy định của Mỹ, thì có khả năng điện than của Việt Nam sẽ đắt nhất thế giới.

Trong bài toán năng lượng cho Việt Nam, phân tích của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho thấy, có thể nâng tỷ lệ điện mặt trời và điện gió lên tới 15% bằng cách nâng cấp một số phương thức vận hành, chẳng hạn điều chỉnh thông số mạng lưới truyền tải, dự báo nhu cầu tốt hơn, lập lịch trình tốt hơn… Đây là những việc không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư.

Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách có thể cải thiện tính cạnh tranh của năng lượng tái tạo bằng cách thay đổi hệ thống giá mua điện cố định (FIT) bằng đấu giá ngược (reverse auction), tăng khả năng được ngân hàng tài trợ các hợp đồng mua bán điện PPA.

Việc áp dụng những giới hạn nghiêm ngặt hơn đối với phát thải chất gây ô nhiễm không khí đối với các nhà máy điện than (việc này sẽ đòi hỏi lắp đặt các loại công nghệ kiểm soát sau đốt) cũng là một yêu cầu…

Đã có nhiều báo cáo khuyến nghị Việt Nam ngừng đầu tư mới vào điện than và lên lộ trình ngừng sử dụng các nhà máy điện than. Đặc biệt, bên cạnh tiềm năng đã rõ ràng từ điện mặt trời và điện gió trên bờ, thì điện gió ngoài khơi và năng lượng thủy triều đang được đưa vào tính toán với ưu thế cạnh tranh trong tương lai. 

Theo phân tích của Carbon Tracker Initiative, nếu các nhà hoạch định chính sách Việt Nam vẫn gắn bó với điện than, thì Việt Nam sẽ đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan: tiếp tục trợ cấp cho các nhà máy điện than để duy trì khả năng tài chính của họ, hoặc giữ giá điện thấp một cách giả tạo để giúp người tiêu dùng khỏi phải gánh chi phí cao hơn.

Cả hai phương án trên đều chứng tỏ không bền vững, bởi trợ cấp cho phát điện than sẽ gây phẫn nộ cho người đóng thuế hoặc người tiêu dùng điện, trong khi giá thấp giả tạo sẽ làm mất nguồn thu ngân sách.

Theo phân tích của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C, cần cắt giảm 70% sản xuất điện than đến 2030 và loại bỏ hoàn toàn loại điện năng này vào năm 2050.

Đối với Việt Nam, ở kịch bản trái đất nóng lên dưới 2oC và trong điều kiện các nhà máy điện than ngừng hoạt động nhằm tuân thủ Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, thiệt hại có thể lên đến 6,5 tỉ USD, tương đương 2,7% GDP của năm 2018.


Đọc thêm >>>
Biến đổi khí hậu toàn cầu tạo ra thị trường “kinh doanh sạch” 2.100 tỉ đô
Đồng bằng sông Cửu Long: Khát giữa vùng nước
Sau thỏa thuận Paris 2015: 2.700 tỉ USD đổ vào nhiên liệu hóa thạch
VN sẽ thiệt hại 2,8% GDP mỗi năm vì suy thoái môi trường tự nhiên
Microsoft cam kết dấu chân carbon âm tính vào năm 2030

"Khởi nguồn kinh doanh là để tạo ra hạnh phúc, không phải để tích lũy của cải.". ---- B.C Forbes

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 90 tháng 11.2020

 Số 90 tháng 11.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - 10 NHÀ PHÁT TRIỂN BẤT ĐỘNG SẢN HÀNG ĐẦU

    Danh sách 10 nhà phát triển bất động sản hàng đầu dựa trên số lượng sản phẩm đưa ra thị trường từ năm 2014 đến nay.

  • - NGƯỜI CỦA THỊ TRƯỜNG

    Ông Nguyễn Đình Trung đưa Hưng Thịnh từ một công ty môi giới thành nhà phát triển bất động sản có hệ sinh thái khép kính.

  • - KHU ĐÔ THỊ XANH

    Gamuda Land bền bỉ phát triển hai khu đô thị xanh tại Hà Nội và TP.HCM.

  • NGƯỜI XÂY TỔ ẤM

    Chuỗi siêu thị nội thất Baya tái cơ cấu hoạt động khi thị trường bất động sản trầm lắng.

  • - SẴN SÀNG ĐÓN LẤY CƠ HỘI

    Với bảy nhà máy, Staint Gobain nắm bắt cơ hội ở đất nước trong thời kỳ đô thị hóa.

  • - ĐÓN ĐẦU TƯƠNG LAI

    Các doanh nghiệp bất động sản sẵn sàng đầu tư lớn cho công nghệ trong bất động sản.

  • - ƯU TIÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG LÀM NÊN SỰ GIÀU CÓ

    Thứ trưởng bộ Giao thông Vận tải chia sẻ về chiến lược phát triển hạ tầng, và kế hoạch triển khai trong năm năm tới.