Suzanne Letch xây dựng Art Vietnam Gallery trở thành phòng tranh hiếm hoi tại Việt Nam có khả năng tiếp cận mạng lưới các nhà sưu tập lớn trên thế giới. 

SUZANNE LECHT ĐÃ CHUYỂN TOÀN BỘ VĂN PHÒNG về tư gia trên phố Yên Lạc được ba năm nay. Phòng tranh giờ hoạt động với quy mô nhỏ với ba nhân sự và tập trung vào khoảng mười nghệ sĩ.

Suzanne Letch tích lũy nghệ thuật với Art Vietnam Gallery - ảnh 1

Nhà sáng lập và giám đốc nghệ thuật Art Vietnam Gallery, Suzanne Lecht.

Covid-19 khiến Suzanne có mùa hạ đầu tiên tại Hà Nội sau hơn hai thập kỷ sống và làm việc ở đây. Người phụ nữ 72 tuổi bơi lội và đạp xe hằng tuần có vẻ ngoài trẻ trung, thanh nhã và nguồn năng lượng dồi dào.  

Trong bộ trang phục lụa vẽ tay họa tiết trang trí giống bức sơn dầu trừu tượng của họa sĩ Nguyễn Cầm, bà dẫn Forbes Việt Nam tham quan ba tầng lầu của ngôi nhà. Đây vừa là phòng tranh vừa là nhà riêng của bà được thiết kế theo lối kiến trúc hiện đại pha lẫn truyền thống, với ngôi nhà sàn người Thái Trắng được bà mang từ Mai Châu, Hòa Bình về dựng lại.

Vốn là nhà thiết kế nội thất, bà trưng bày khéo léo, vừa đủ riêng tư, vừa đủ bày biện thẩm mỹ với nghệ thuật hiện đại, đương đại, truyền thống, từ tượng Phật, giường tủ cổ, tới tranh giấy, tranh in, sơn mài, sơn dầu, ảnh, cùng nhiều tác phẩm điêu khắc.

Art Vietnam Gallery do Suzanne sáng lập và là giám đốc nghệ thuật là phòng tranh thương mại hiếm hoi tại Việt Nam có khả năng tiếp cận mạng lưới các nhà sưu tập lớn, các bộ sưu tập tư nhân, bộ sưu tập bảo tàng trên thế giới, tổ chức triển lãm trong và ngoài nước, tham gia các hội chợ nghệ thuật quốc tế, lưu trữ thông tin, xuất bản sách, chuẩn bị hồ sơ, đưa nghệ sĩ lưu trú quốc tế đồng thời đẩy tên tuổi họ lên thứ bậc cao hơn trên thị trường.

Bà nói: “Tôi thấy hạnh phúc khi có thể đóng góp cho nghệ thuật, như triển lãm nghệ phẩm ra ngoài biên giới, tạo ra các mạng lưới trên thị trường. Nhiều phòng trưng bày nghệ thuật chỉ bán tranh, nhưng hỗ trợ nghệ sĩ không đơn thuần là treo nghệ phẩm lên tường.”

Dù điểm cuối là thương mại – bà muốn bán nhiều tranh hơn cho nghệ sĩ, thì tiêu chí lựa chọn nghệ phẩm ban đầu của người phụ nữ quốc tịch Mỹ này luôn đến từ cảm nhận, thẩm mỹ cá nhân. “May thay, bằng diệu kỳ nào đó, phòng tranh vẫn tồn tại tới hôm nay!”

Đối với bà, nghệ phẩm phải là nguyên bản, không sao chép ý tưởng bất cứ ai. “Tôi có thể đánh giá cao các bức họa có hình thức đẹp, nhưng tôi trân quý và lựa chọn những nghệ phẩm có tính triết lý, có ý nghĩa lớn hơn đời sống thường nhật hoặc mang yếu tố tâm linh. Nghệ sĩ phải thực sự nghĩ về nó, giao tiếp với nó. Trong sự quan sát giữa người xem và nghệ phẩm, giữa vật chất và phi vật chất, phải tồn tại không gian, thời gian, siêu việt, kích thích suy nghĩ, khiến tôi cảm thấy được điều gì đó, và đặt câu hỏi: tại sao tôi cảm thấy như vậy khi quan sát nghệ phẩm này?”

Suzanne quan tâm tới triết học Phật giáo và yêu mến văn hóa Việt Nam, đặc biệt là quan niệm về cái chết và cách người Việt thể hiện sự tôn kính với người đã khuất. Điều đó đã khiến bà xúc động và an yên, chọn gắn bó với mảnh đất này từ lần đầu tới Việt Nam sau cái chết đột ngột của chồng năm 1992.

Suzanne Letch tích lũy nghệ thuật với Art Vietnam Gallery - ảnh 2

Từ Tokyo, Suzanne tới Hà Nội ngày 8.1.1994. Trong lần thăm quan bảo tàng Hồ Chí Minh, bà được một người Hà Nội mến khách mời tới nhà ăn trưa, và gặp họa sĩ Nguyễn Quang Vinh khi đó là thành viên của nhóm Gang of Five (gồm Hồng Việt Dũng, Hà Trí Hiếu, Đặng Xuân Hòa, Trần Lương và Phạm Quang Vinh – nhóm nghệ sĩ thành danh ở miền Bắc thời kỳ sau Đổi Mới). Họ trở thành bạn và ông Vinh kết nối bà tới mạng lưới các nghệ sĩ khác.

Vài năm sau đó, trong vai trò môi giới nghệ thuật và có sẵn những mối quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới, Suzanne bắt đầu giới thiệu nghệ thuật đương đại Việt Nam tới các bảo tàng, phòng tranh, những người môi giới nghệ thuật và đưa nghệ sĩ Việt Nam ra triển lãm quốc tế.

Mở đầu là triển lãm tại Hong Kong năm 1997 được tập đoàn bất động sản Hongkong Land tài trợ, hợp tác với phòng tranh Nam Sơn và bán hơn một nửa trong số 54 bức tranh trong tiệc khai mạc. Việt Nam mở cửa nhưng khủng hoảng kinh tế châu Á vào năm 1998 khiến mọi thứ chững lại.

Tới những năm đầu thế kỷ 21, nền kinh tế khôi phục. Bà có khách hàng là các chuyên gia quốc tế đến làm việc tại Việt Nam, bên cạnh lượng khách du lịch nước ngoài muốn mua bán các sản phẩm văn hóa.

Đầu những năm 2000, Suzanne Lecht tiếp doanh nhân và nhà sưu tập nghệ thuật người Mỹ Leon David Black, rồi sau đó là Mick Jagger, thành viên ban nhạc rock nổi tiếng The Rolling Stones. “Điều này dễ hiểu bởi Việt Nam lúc đó thay đổi nhiều hơn và gây tò mò với những người nước ngoài, Việt Nam không còn chỉ là chiến tranh Việt Nam,” bà nói.

Suzanne kể bà từng nói với nhà phê bình nghệ thuật Nguyễn Quân – cũng là người hướng dẫn (mentor) của bà, rằng bà đã mất tám năm ở Việt Nam để học văn hóa nghệ thuật nơi đây, hội họa, âm nhạc, con người, và chỉ nhận được nụ cười của ông: “Đương nhiên, bà đâu có biết gì.”

“Tôi đã xây dựng cuộc đời tôi ở đây, và có một chỗ đứng nhất định cho dù tôi chưa từng có kế hoạch kinh doanh nào. Tôi đã nỗ lực hết sức.” Năm 2002, bà thuê nhà của một người bạn ở phố Hàng Than (Hà Nội) để mở Art Vietnam Gallery – nghĩa là “phòng tranh có các tác phẩm nghệ thuật về Việt Nam.”

Art Vietnam Gallery chỉ làm việc với nghệ thuật hiện đại, đương đại cùng các nghệ sĩ đương thời. “Tôi muốn hướng tới sự hồi sinh, sự phát triển, niềm hi vọng và những giấc mơ trên mảnh đất này, của những con người đang sống, đang làm việc từ những năm 1990 – khi Việt Nam bắt đầu đổi mới trong thời kỳ hậu chiến. Người Mỹ không biết gì về Việt Nam trên phương diện văn hóa, và đặc biệt là nghệ thuật đương đại. Tôi nghĩ mình có thể trở thành người kết nối hai đất nước sau chiến tranh.”

Suzanne Letch tích lũy nghệ thuật với Art Vietnam Gallery - ảnh 3

Không gian Art Vietnam Gallery tại Yên Lạc, Hà Nội.

Bà lập Art Vietnam Gallery để kết nối các nghệ sĩ Việt Nam với thế giới. Bà được sự hỗ trợ rất lớn từ bà Vũ Giáng Hương – chủ tịch hội Mỹ thuật Việt Nam. Suzanne làm việc với nghệ sĩ Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt và tổ chức triển lãm tại trung tâm In ấn New York, New York), đưa nhóm làm việc với bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.

Đây là triển lãm lớn nhất tính tới thời điểm đó về văn hóa, tôn giáo và nhân chủng học của Việt Nam. Tới nay, Art Vietnam Gallery làm việc với gần 50 nghệ sĩ, tham gia các hội chợ nghệ thuật lớn trên thế giới tại Paris, London, New York City, Miami, San Francisco...

Art Vietnam Gallery đã bán nhiều nghệ phẩm Việt Nam cho các bộ sưu tập tư nhân nổi tiếng như Lore and Pat McGovern, Gerald Cognie – Gerard and Dora Cognie (Thụy Sỹ), Daniel Howald – Post Vĩ Đại (Thụy Sỹ), Barry Maclean – Maclean Fogg (Hoa Kỳ), Ngân hàng Thế giới và các bộ sưu tập bảo tàng như bảo tàng Quốc gia Singapore, bảo tàng Nghệ thuật Singapore, bảo tàng Nghệ thuật châu Á Fukuoka Nhật Bản, bảo tàng Quốc gia Anh (British Museum), bảo tàng Heide (Melbourne, Úc), bảo tàng Hermitage (St. Petersberg, Nga).

“Giống như mọi thứ, nghệ thuật cũng cần phải qua quá trình bồi đắp để có giá trị hơn,” bà nói.

Mỗi phòng tranh đều có những lựa chọn, phong cách và hướng đi khác nhau, lối làm việc khác nhau và khách hàng tới phòng tranh cũng vì những điều này. Art Vietnam Gallery trong nhiều năm tập trung vào ba đối tượng nghệ sĩ chính: nghệ sĩ trẻ có tiếng-nói-riêng, nghệ sĩ đã và đang có sự nghiệp ổn định, các nghệ sĩ quốc tế ở Việt Nam và làm việc với các nội dung liên quan tới xã hội Việt Nam.

Art Vietnam Gallery cùng với nghệ sĩ đặt ra mức giá bán cho nghệ phẩm. Điều này không dễ, và còn khó hơn nếu nghệ sĩ vừa tốt nghiệp trường đại học. Giá bán dựa vào rất nhiều yếu tố khác nhau như chất liệu sáng tác, thời gian, công sức, kích thước, nỗ lực, trình độ học vấn, thứ bậc triển lãm, tình hình kinh tế xã hội, và cả chính tầng mức của nhà sưu tập.

Khi hiểu thị trường, biết giá bán và nắm rõ các thể loại nghệ phẩm khác nhau, phòng tranh có thể giúp nghệ sĩ có mức giá bán hợp lý cho thời điểm bắt đầu cũng như sau này. Tác phẩm cao giá nhất trong phòng tranh hiện là bức sơn mài khổ 1x2m của họa sĩ người Huế Lê Thừa Tiến có giá 30.000 USD.

“Không chỉ là chuyện tiền bạc, mà là làm điều tốt đẹp bằng nghệ thuật chân chính (good arts), và hỗ trợ nghệ sĩ. Bà ấy hiểu thấu đáo nghệ thuật Việt Nam,” David Thomas, người sáng lập hiệp hội Nghệ thuật Đông Dương nói về bà Suzanne trong chương trình Talk Vietnam năm 2017.

Suzanne đến Việt Nam với visa loại 6 tuần. 24 năm sau, bà vẫn ở đây. Không nói tiếng Việt trôi chảy khi tiếp cận với khách hàng Việt Nam, Suzanne cho rằng rào cản lớn nhất không phải ngôn ngữ mà là sự ngại ngùng vì thiếu hiểu biết nghệ thuật. “Người xem nói không biết gì về nghệ thuật nên không dám bước vào phòng tranh. Tôi cũng không biết gì! Chúng ta đều phải học thôi.”

Suzanne Letch tích lũy nghệ thuật với Art Vietnam Gallery - ảnh 4

Nền tảng giáo dục tốt có thể giúp phát triển lành mạnh hệ thống các nhà sưu tập người Việt Nam, sưu tập nghệ phẩm của Việt Nam. Đây là điều quan trọng nhất để tạo lập thị trường tốt với các nhà sưu tập trong nước và dần dần thoát khỏi sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường nước ngoài.

“Tình hình Việt Nam cũng giống như thế giới. Những năm 1980, Nhật Bản trở thành nền kinh tế mạnh nhất thế giới và bắt đầu sưu tập nghệ phẩm của bậc thầy hội họa phương Tây. Họ không biết, không tin, không tự tin, không đầu tư vào nền nghệ thuật đương đại đang diễn ra trên đất nước họ. Mọi người sẽ bắt đầu học nhiều hơn về văn hóa nghệ thuật bản địa, dù điều này sẽ rất mất thời gian.”  

Giờ đây, Suzanne Lecht tập trung làm việc trong quy mô nhỏ hơn, chỉ mở cửa gallery khi có lịch hẹn trước, tổ chức các bữa tiệc riêng tư, tư vấn nghệ thuật, đọc thơ, nghe nhạc hay các hoạt động văn hóa khác. Bà mở phòng tranh còn 2.000 USD, và 18 năm sau khi phòng tranh chuyển về tư gia, bà đang muốn bán hoặc nhượng lại phòng tranh, và bán cả bộ sưu tập cá nhân.

Bộ sưu tập của bà là hành trình 26 năm tại Việt Nam, gồm 300 tác phẩm của bậc thầy hội họa Việt Nam như Nguyễn Tư Nghiêm, cùng các nghệ sĩ nhiều thế hệ khác như Trần Lưu Hậu, Lê Thừa Tiến, nhóm Gang of Five, Nguyễn Minh Thành... được sáng tác vào thời điểm Việt Nam mới mở cửa, nghệ thuật vẫn chưa ảnh hưởng nhiều bởi các nghệ sĩ trong khu vực và quốc tế.

Bà nói bà muốn tìm nhà sưu tập có thể giữ lại bộ sưu tập tại Việt Nam và nói việc bộ sưu tập này thuộc về Việt Nam có giá trị hơn nhiều việc nó lưu lạc nhiều nơi trên thế giới. 

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 87, tháng 8.2020 

Đọc thêm >>>
Bùi Công Khánh đưa nghệ thuật thực hành về chốn dung dị
Tỉ phú sản xuất phim Contagion: Từ phim ảnh đến đời thực
Đạo diễn Việt Tú: “Ảo thuật gia” sân khấu
Thử thách lớn của Big Hit - nhà quản lý ban nhạc K-Pop lừng danh BTS
10 tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thập niên 2010 
Triển lãm nhóm Noirfoto: Khai phá ranh giới khác của nhiếp ảnh 

"Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình". ---- Socrates - Triết gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 89 tháng 10.2020

 Số 89 tháng 10.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - DANH SÁCH 10 NGÂN HÀNG KINH DOANH HIỆU QUẢ NHẤT

    Các ngân hàng tư nhân năng động chiếm tỉ lệ áp đảo và xuất hiện ở các vị trí dẫn đầu.

  • - HÀNH TRÌNH CHINH ĐÔNG

    Đặt ưu tiên hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững, ông Trịnh Văn Tuấn xây dựng ngân hàng Phương Đông theo một lối riêng.

  • - THÀNH TỰU HAI THẬP NIÊN XÂY NỀN

    Nhiều năm ở chiếu dưới, Manulife Việt Nam vươn lên dẫn đầu thị phần bảo hiểm khai thác mới.

  • ĐƯỜNG ĐẾN SIÊU ỨNG DỤNG

    Có trong tay 20 triệu người dùng, MoMo đặt mục tiêu 50 triệu khách hàng và thành siêu ứng dụng.

  • - SỰ TRỞ LẠI CỦA “NGƯỜI CŨ”

    Ông Huỳnh Thanh Phong dẫn dắt FWD, gương mặt mới trong làng bảo hiểm, nhanh chóng phát triển.

  • - PHỎNG VẤN: TÌM KIẾM TRẢI NGHIỆM VƯỢT TRỘI

    Thực trạng, cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số của ngân hàng theo quan điểm lãnh đạo ngân hàng VIB.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT SINGAPORE