Event Tech Summit
Cách đây 20 năm, một Việt kiều quyết tâm mở bệnh viện tư và giờ đây tìm hướng đi mới khi áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực y tế.

TP.HCM, vào một buổi sáng hơn 20 năm trước có hai người ngồi chụm đầu bên ly cà phê tại khách sạn Caravelle. Người thứ nhất, bác sĩ Võ Quang Minh, tiến sĩ tu nghiệp ở Pháp, sau là trưởng khoa Mắt, đại học Y dược TP.HCM. Người kia, một Việt kiều, 50 tuổi, ông sinh ra và lớn lên tại Việt Nam nhưng phần lớn thời gian học tập và làm việc tại châu Âu. Người ngoại đạo với ngành y tế sau nhiều lần về thăm quê hương chứng kiến dịch vụ khám chữa bệnh và thiết bị y tế lạc hậu bật ra một ý tưởng. “Tôi có thể mở một bệnh viện mắt ở Việt Nam không?” vị khách hỏi. “Không. Điều này không thể,” vị bác sĩ Việt Nam lắc đầu quả quyết.

Bỏ ngoài tai lời khuyên của không ít người có chuyên môn, năm 2001, vị Việt kiều lập bệnh viện Mắt Cao Thắng, bệnh viện mắt tư nhân đầu tiên của Việt Nam và cũng là một trong những bệnh viện tư nhân ra đời thuộc loại sớm nhất ở TP.HCM. Trái với các dự đoán ban đầu, bệnh viện tư nhân này không chết yểu. 17 năm qua bệnh viện “sống sót” và dần hoạt động với nét riêng: Vào năm 2003, Cao Thắng là một trong các bệnh viện tư nhân đạt chuẩn chứng nhận hợp quy ISO 9001:2000, hệ thống quản lý chất lượng do tổ chức quốc tế Det Norske Veritas (DNV) – Na Uy cấp. Năm 2009, Cao Thắng là bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam đạt chuẩn JCI, tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, chất lượng chăm sóc y tế và quản lý bệnh viện của Hoa Kỳ, chứng nhận cho đến hiện nay ở Việt Nam có thêm hai đơn vị là Vinmec (2015) và Pháp - Việt TP.HCM (2016). Năm 2011, Cao Thắng là bệnh viện mắt đầu tiên ở Việt Nam gia nhập hiệp hội Bệnh viện Mắt Thế giới (WAEH).

Phát triển bệnh viện mắt từ góc nhìn của người “ngoại đạo“ - ảnh 1

  Ông Nguyễn Danh Khôi, nhà sáng lập bệnh viện Mắt Cao Thắng.

“Y tế là ngành đặc biệt phải nhìn vào một chặng đường dài,” ông Nguyễn Danh Khôi, nhà sáng lập bệnh viện Mắt Cao Thắng nói với Forbes Việt Nam. Mô hình “nhỏ và xinh” của bệnh viện này cho thấy các nhà đầu tư tư nhân, với nguồn lực hạn chế, không chuyên có thể tồn tại và phát triển nếu quản trị và có chiến lược phát triển phù hợp. Dáng người đẫy đà, phong thái đĩnh đạc, nói năng nhẹ nhàng, khúc chiết, ông Khôi nhìn trẻ hơn nhiều so với tuổi 70. Sinh ra trong một gia đình khá giả tại Sài Gòn nhưng ông tự nhận mình là một “Việt kiều nghèo”. Năm 1967, ở tuổi 19 ông Khôi được gia đình đưa sang Thụy Sĩ học tập, mảnh đất sau này ông nhập tịch, lấy vợ và làm việc. Năm 1989 ông Khôi quay về Việt Nam lần đầu tiên và chứng kiến sự quá tải của dịch vụ y tế. “Cần làm một cái gì đó,” sau gần chục năm đi đó đi đây, tham khảo nhiều ý kiến tư vấn, ông quyết định: Mở bệnh viện mắt.

 Tại sao lại mắt? Về mặt cá nhân, ông Khôi từng bị cận 10 đi ốp nên thấu hiểu phiền toái của những người mắc tật khúc xạ. Nghiên cứu thị trường, ông thấy ở TP.HCM chỉ có bệnh viện Mắt Điện Biên Phủ. Về chuyên môn, ông Khôi quan sát thấy bệnh viện mắt sạch sẽ, điều trị ít có khả năng gây rủi ro tai biến, chết người nên tin rằng sẽ quản lý được. Về tài chính, suất đầu tư thiết bị, máy móc vừa phải, phần lớn bệnh nhân khám chữa bệnh trong ngày nên không phải xây dựng khu điều trị nội trú, vốn đầu tư không quá lớn. Trong ngành nhãn khoa, thiết bị y tế hỗ trợ tối đa cho việc khám và điều trị nên bệnh viện không cần duy trì một đội ngũ nhân sự quá lớn. Cách tiếp cận như trên khiến ông lần lượt loại bỏ các gợi ý khác. Chẳng hạn như nha khoa dù tiềm năng nhưng hàng rào gia nhập không cao, thị trường có nhiều đối thủ, giá dịch vụ rất cạnh tranh.

Là người ngoài ngành, ông Khôi khó có thể đầu tư mở bệnh viện đa khoa. “Bệnh viện đa khoa mình không kiểm soát hết được rủi ro y tế. Không kiểm soát được rủi ro thì mình tìm cách giới hạn rủi ro,” ông nói. Trước Đổi mới, hệ thống y tế Việt Nam được xây dựng theo mô hình bao cấp, với hệ thống y tế công đóng vai trò chủ đạo chăm sóc sức khỏe cho cả xã hội. Bước sang đầu thập niên 1990 y tế tư nhân ở Việt Nam mới manh nha hình thành. Ở TP.HCM đi đầu có thể kể đến như trung tâm Chẩn đoán Y khoa (Medic) do bác sĩ Phan Thanh Hải lập ra năm 1990, bệnh viện Hoàn Mỹ do bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng thành lập năm 1997... Sang thiên niên kỷ mới hệ thống y tế Việt Nam đón làn gió mới từ dòng vốn FDI, các bệnh viện 100% vốn đầu tư nước ngoài xuất hiện, tiêu biểu như Pháp - Việt, Columbia Asia Bình Dương.

Năm 2011, tập đoàn Fortis thâu tóm hệ thống bệnh viện Hoàn Mỹ và sau đó chủ hệ thống này tiếp tục thực hiện ba thương vụ M&A là bệnh viện Hạnh Phúc, bệnh viện Vạn Phúc và bệnh viện Quốc tế Vinh... Trong giai đoạn này xuất hiện thêm các bệnh viện tư quy mô: Hồng Ngọc (Hà Nội), Hợp Lực (Thanh Hóa), Triều An (TP.HCM)… Năm năm qua lĩnh vực y tế tư nhân xuất hiện khái niệm bệnh viện năm sao trong tham vọng san sẻ một phần miếng bánh trị giá khoảng ba tỉ đô la Mỹ của người Việt hằng năm ra nước ngoài khám chữa bệnh. Tiêu biểu có thể kể đến tập đoàn Vingroup thành lập hệ thống bệnh viện Vinmec đi vào hoạt động từ năm 2012 đến nay mở rộng với bảy bệnh viện và hai phòng khám, trong đó phần lớn nằm trong khuôn viên các dự án bất động sản của tập đoàn này.

Liên kết với Parkway, tập đoàn Hoa Lâm khánh thành bệnh viện Quốc tế City (CIH) từ năm 2014. Mới nhất công ty bất động sản Tiến Phước xây dựng bệnh viện Quốc tế Mỹ (AIH) công bố theo tiêu chuẩn Mỹ, đi vào hoạt động vào tháng 10.2018. Hiệp hội bệnh viện tư Việt Nam ước tính hiện có khoảng 170 bệnh viện tư nhân đang hoạt động, chiếm khoảng 15% số bệnh viện nhưng chưa tới 10% số giường bệnh. Báo cáo của KPMG cho biết giai đoạn 2011 – 2016 số lượng bệnh viện công chỉ tăng 0,8% nhưng bệnh viện tư tăng 6,8%.

Theo số liệu từ bộ Y tế, số giường bệnh trên 10 ngàn dân là 25,7. Trong đó, chỉ số này ở bệnh viện công là 24, ở bệnh viện tư là 1,7. Giới chuyên môn phân chia các nhà đầu tư, xây dựng bệnh viện ra làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất các bác sĩ bệnh viện công, sau thời gian làm việc nhận thấy cơ hội tách riêng mở bệnh viện tư như trường hợp bệnh viện Tâm Đức, Xuyên Á, Tâm Trí, Mỹ Đức… Nhóm thứ hai, các “nhà đầu tư lãng mạn”, những người ngoài ngành, tích tụ tài chính từ các hoạt động kinh doanh khác như bất động sản, rót vốn đầu tư xây dựng bệnh viện như trường hợp của Vingroup, Hoa Lâm, Hợp Lực, Tiến Phước…

Phát triển bệnh viện mắt từ góc nhìn của người “ngoại đạo“ - ảnh 2

Bác sĩ Võ Quang Minh (ngoài cùng, trái), ông Robert E. Molter (cố vấn bệnh viện Cao Thắng) và ông Nguyễn Danh Khôi

Bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng, nhà sáng lập hệ thống bệnh viện Hoàn Mỹ nhận xét, cả hai nhóm nhà đầu tư có những điểm riêng. Nhóm thứ nhất các bác sĩ mở nên có khả năng tập hợp và xây dựng đội ngũ. Nhưng họ hạn chế về nguồn lực tài chính, năng lực quản trị nên gặp khó khăn trong việc mở rộng hệ thống, nếu thành công thường chỉ dừng lại mức mở được 1 – 2 bệnh viện. Ngược lại, các “nhà đầu tư lãng mạn” có tiềm lực tài chính nhưng không hiểu sâu sắc đặc thù ngành y tế, suất đầu tư khá cao, bệnh viện xây xong to đẹp... nhưng vắng khách vì chỉ tầng lớp khá giả mới đủ khả năng tiếp cận dịch vụ.

Bệnh viện của các “nhà đầu tư lãng mạn” hiện tại đa phần hoạt động với hiệu quả chưa như kỳ vọng khi bỏ vốn đầu tư. Trở lại với bệnh viện mắt của vị Việt kiều. Năm 2001, Cao Thắng ra đời, sau đó tại TP.HCM lần lượt xuất hiện cả chục bệnh viện mắt tư nhân như Mắt Sài Gòn, viện Mắt Kỹ thuật cao Phương Nam, bệnh viện Mắt Việt Hàn, bệnh viện Mắt Việt Nga… do các bác sĩ tách ra làm riêng hoặc do nước ngoài đầu tư. Ông Lê Trúc Phương, quản lý bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cố vấn cho Cao Thắng đánh giá các bệnh viện mắt tư nhân mỗi đơn vị hướng vào một phân khúc khách hàng riêng. “Cao Thắng trội hơn nếu đặt cạnh khoa mắt của các bệnh viện đa khoa, nhưng nếu so sánh với bệnh viện mắt công lập chuyên ngành như bệnh viện Mắt Điện Biên Phủ thì thua về nguồn nhân lực,” ông Phương nói.

Trước tháng 9.2018, Cao Thắng hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, 99% vốn do ông Khôi nắm giữ. Hiện tại, với 72 nhân sự, Cao Thắng có hai cơ sở tại TP.HCM cung cấp đầy đủ các dịch vụ khám tật khúc xạ đến kỹ thuật cao như mổ phaco, mổ lasik. Theo thống kê nội bộ, ước tính năm 2018 bệnh viện đón gần 100 ngàn lượt khám chữa bệnh, tăng khoảng 10%. Sau 17 năm hoạt động, ước tính bệnh viện tư nhân này đã thu hút khoảng một triệu lượt khám chữa bệnh. “Ông Khôi là người ngoài ngành nhưng hiểu về quản trị,” bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng nhận xét.

Nhìn lại thời gian 17 năm hoạt động của Cao Thắng, bác sĩ Quang Minh, người từng khuyên ông Khôi không mở bệnh viện, kể: “Yếu tố quan trọng nhất khi ấy là điều kiện xã hội chưa hình thành, người có tiền chưa nhiều, bác sĩ mới ra trường cũng chỉ muốn vào làm ở bệnh viện công. Có thể ông Khôi ở nước ngoài đã nhìn thấy rộng hơn.” Lựa chọn Đúng lĩnh vực mới giải quyết được nửa bài toán khó hoạt động bệnh viện tư nhân này. Thách thức với các nhà đầu tư xây dựng bệnh viện hiện nay là tập hợp được đội ngũ bác sĩ giỏi, lành nghề. Tại sao vấn đề nhân sự của bệnh viện tư nhân trở thành bài toán nan giải? Giới chuyên môn chỉ ra ba lý do chính. Thứ nhất, rủi ro và sai sót là một phần tất yếu trong điều trị y tế, kể cả ở các nước có nền y học tiên tiến. Thứ hai, giai đoạn ban đầu các bệnh viện tư chưa có bệnh nhân nên các bác sĩ giỏi e ngại ít có điều kiện thực hành, dễ mai một tay nghề. Thứ ba, thu nhập của các bác sĩ bệnh viên tư trên danh nghĩa tuy rất tốt nhưng sau khi kê khai, đóng thuế đầy đủ chưa hẳn đã hấp dẫn so với làm việc ở bệnh viện công, với một vài hình thức thu nhập ngoài lương, hay làm ngoài giờ tại các phòng khám tư nhân bên ngoài.

“Tôi không nghĩ bác sĩ là nhân viên mà là đối tác. Đối tác với nhau khi cùng chung mục đích thì đồng hành cùng nhau,” ông Khôi nói. Ban đầu, Cao Thắng mời một số bác sĩ nước ngoài đến làm việc, hay cộng tác với các bác sĩ về hưu, tuyển dụng các bác sĩ trẻ mới ra trường và các bác sĩ ở tỉnh chuyển về TP.HCM chưa xin được việc ở các bệnh viện công. Lần hồi, bộ máy nhân sự của Cao Thắng cũng ổn định, thậm chí tạo ra nét riêng khi vị Việt kiều có tư tưởng thoáng muốn hội nhập, học hỏi nhằm tự nâng cao bệnh viện và đào tạo nhân viên. “Mình phải giúp bác sĩ nâng cao chuyên môn. 70% là làm việc, 30% là cập nhật nâng cao tay nghề,” ông Khôi nói về cách “giữ người.”

Dù chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh, năm 2015, cái tên Cao Thắng lại xuất hiện trên báo chí khi có bệnh nhân mổ lasik đợt một ở bệnh viện này nhưng đợt hai không có bác sĩ. Lý giải ông Khôi cho biết bác sĩ mổ đợt một chuyển công tác, các bác sĩ còn lại e ngại nếu phát sinh rủi ro y tế khó quy kết trách nhiệm khi một bệnh nhân hai bác sĩ phẫu thuật. Trong 17 năm hoạt động, bệnh viện này một lần bị bệnh nhân kiện vì mổ mắt gây biến chứng sau phẫu thuật. Ông chủ bệnh viện Cao Thắng nhận định tỉ lệ sai sót 1/1.000.000 trong 17 năm qua ở mức chấp nhận được và cho biết đưa bệnh nhân sang Thái Lan tái khám và kết luận một phần xuất phát từ cơ địa người này.

Bước ngoặt lớn với bệnh viện “nhỏ và xinh” diễn ra vào cuối năm 2018 khi chuyển nhượng 51% cổ phần và kết hợp với hai đối tác trong khu vực là Asian Eye Hospital (Philippines) và Jakarta Eye Center (Indonesia) cùng với đại học Quốc tế (thuộc đại học Quốc gia TP.HCM) nghiên cứu để thử nghiệm mô hình mới: Thay vì mô hình bệnh viện truyền thống, sự hợp tác ba bên sẽ thành lập các trung tâm vệ tinh rải rác ở các địa phương với sự hỗ trợ tối đa của kỹ thuật hiện đại. Các thiết bị y tế mới nhất sẽ chụp, scan hình ảnh và gửi tới một trung tâm xử lý. Với phần mềm chuyên dụng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), sau khi xử lý trung tâm sẽ gửi trả các kết luận tới các bác sĩ chuyên ngành. Mô hình nếu áp dụng thành công sẽ giảm tối đa chi phí khám chữa bệnh do sự giảm thiểu về chi phí mặt bằng, số lượng bác sĩ và thời gian. “Y tế trong khu vực đang đi quá nhanh. Mình không thể không tiến lên,” ông Khôi nói về bước chuyển dịch mới.


"Việc chúng ta dũng cảm tuân thủ các quy tắc không phải là điều ghê gớm; nói đúng hơn là chúng ta quá nhát gan để chịu trách nhiệm.". ---- Nhà văn G.K. Chesteron

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 68 tháng 1.2019

 Số 68 tháng 1.2019

 
  • - ĐẦU TƯ VÀO ĐÂU TRONG NĂM 2019?
  • - "VUA TÔM TRỞ LẠI"
  • - GỠ NÚT THẮT NGÀNH DỆT MAY
  • - HI VỌNG CUỐI CÙNG CỦA TIỀN MÃ HÓA

Các số báo khác