Việt Nam cần tổ chức lại ngành nông nghiệp theo mô hình chuỗi liên kết từ khâu chọn giống, trồng trọt, thu hái chế biến, đóng gói bảo quản cho đến vận chuyển xuất khẩu. 

LTS: Cả xã hội được kêu gọi chung tay giải cứu thanh long Việt Nam vào trung tuần tháng 2.2020 từ ảnh hưởng của việc đóng biên do dịch viêm đường hô hấp cấp (Covid-19). Những năm gần đây, rau quả Việt Nam gia tăng giá trị xuất khẩu nhưng các đợt giải cứu vẫn liên tục lặp lại. Forbes Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Đặng Phúc Nguyên - tổng thư ký hiệp hội Rau quả Việt Nam; ông Phạm Quốc Liêm - CEO công ty cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm) và ông Nguyễn Lâm Viên - chủ tịch Vinamit về các tồn đọng của ngành trồng trọt cũng như việc tổ chức sản xuất phát triển bền vững, hiệu quả. (hình: từ trái sang)


​Phát triển bền vững cho trồng trọt Việt Nam - ảnh 1

 THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

FORBES VIỆT NAM: Những năm gần đây, xuất khẩu trái cây, rau củ của Việt Nam đạt kết quả khá tốt, sự tăng trưởng này đến từ đâu?

PHẠM QUỐC LIÊM: Theo tôi, sự phát triển của ngành rau củ, trái cây Việt Nam là kết quả các chính sách ưu đãi của Chính phủ trong khuyến khích đầu tư nông nghiệp, sự tham gia của các doanh nghiệp có tâm huyết, sự hưởng ứng của các trang trại và nông hộ. Kết quả là, hàng hóa được sản xuất trên quy mô lớn hơn và chất lượng sản phẩm tốt hơn.

Không thể phủ nhận, sự phát triển về cơ sở hạ tầng giúp chi phí sản xuất và logistics ngành nông nghiệp giảm xuống, nhờ vậy giá thành nông sản cạnh tranh tốt hơn. Nỗ lực về phát triển thương mại song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc đã mở cửa cho nhiều loại nông sản Việt Nam ở thị trường 1,4 tỉ dân này.

Cùng với sự phát triển về kinh tế, nhu cầu tiêu thụ nông sản chất lượng cao trong đời sống hằng ngày của người Trung Quốc ngày càng cao hơn. Họ chấp nhận trả giá cao hơn để mua trái cây, rau củ quả Việt Nam. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận vai trò của truyền thông trong việc khuyến nông. 

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Sự tăng trưởng một phần đến từ việc chuyển dịch trồng trọt trong nước nhưng lý do sâu xa đến từ điều tiết của thị trường. Trung Quốc hiện chiếm 70% giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Với quy mô dân số, Trung Quốc là thị trường tiêu dùng lớn trên thế giới. GDP đầu người của Trung Quốc không ngừng gia tăng, đạt khoảng 10.000 USD, khu vực thành thị thậm chí lên tới 20.000 USD. Người dân Trung Quốc có nhu cầu tiêu dùng cao cấp ngày càng tăng.

Trái cây nhiệt đới Việt Nam đa dạng, hương vị tự nhiên, Việt Nam là quốc gia láng giềng sát biên giới thuận tiện nhất về giao thông, vận chuyển. Tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu vào thị trường này cũng không quá khắt khe so với thị trường Nhật, Hàn Quốc, vì vậy trái cây Việt Nam tăng lên đáp ứng một phần nhu cầu này.

FORBES VIỆT NAM: Thời gian vừa qua, rất nhiều lần xã hội chung tay giải cứu nông sản Việt Nam, đâu là nguyên nhân chính?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Với lý do kiểm soát dịch bệnh Trung Quốc đóng cửa biên giới một thời gian để chống dịch Covid-19 vào tháng 2.2020. Quốc gia này đóng cửa không chỉ với nông sản nhập khẩu từ Việt Nam mà cả lĩnh vực du lịch, hàng không. Người dân Trung Quốc được khuyến cáo hạn chế đi lại khiến nền kinh tế đình trệ, chi tiêu nội địa giảm mạnh. Điều này gây dư thừa cho nông sản Việt Nam, đặc biệt một số loại trái cây như thanh long, dưa hấu.

Ngược thời gian trước, nhiều lần Trung Quốc cấm biên hoặc không nhập khẩu khiến trái cây Việt Nam không có đầu ra bị ùn ứ, được kêu gọi giải cứu. Lý do chính, Trung Quốc thay đổi chính sách thương mại, nhập khẩu với trái cây tươi từ Việt Nam hoặc họ tìm được các nguồn cung với giá tốt hơn.

Các đợt giải cứu trái cây và nông sản đều chung một lý do là dư cung. Dư cung từ việc chúng ta thiếu hay không nắm được thông tin thị trường để điều tiết sản xuất kịp thời. Khi dịch bệnh được kiểm soát, biên giới mở cửa, chắc chắn nhu cầu tăng vọt trở lại có thể hơn trước khi dịch bệnh, chúng ta phải sẵn sàng có hàng hóa để bán.

PHẠM QUỐC LIÊM: Nguyên nhân là chúng ta thiếu thông tin về sản phẩm và thị trường. Ở một số quốc gia nông nghiệp, người nông dân nắm rất chắc về thị trường và sản phẩm mà họ xuất khẩu. Bên cạnh đó, nông nghiệp Việt Nam phát triển manh mún thiếu liên kết. Tính hiệu quả của các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay chưa cao, trong khi đó một số doanh nghiệp thương mại chỉ chú trọng việc mua đi bán lại để kiếm lời, chứ chưa xây dựng được các mắt xích liên kết, hình thành giá trị bền vững cho nền sản xuất nông nghiệp.

Các mô hình liên kết hiện nay giữa nông dân và doanh nghiệp thường rất dễ đứt gãy do lỗi từ cả hai phía: khi giá cao thì nông dân không bán cho doanh nghiệp, khi giá thấp thì một số doanh nghiệp từ chối mua nông sản. Bên cạnh đó là tình trạng nhiễu thông tin, thông tin bị phản ánh sai và chưa đầy đủ.

Trong nhiều trường hợp, các phương tiện truyền thông hay các tổ chức khuyến nông do không có điều kiện tiếp cận được nguồn thông tin đúng, vô tình tuyên truyền cho những mô hình nông nghiệp mà họ nghĩ là “hiệu quả” nhưng thực ra chỉ mang tính bề nổi, ngắn hạn, thiếu ổn định, khó nhân rộng sản xuất ở quy mô lớn. Trong khi đó, một bộ phận lớn nông dân có tâm lý “nhìn sang vườn cây nhà hàng xóm,” thích sao chép những mô hình có thu nhập cao (dù tạm thời) rồi vội vã đầu tư.

Chúng ta thiếu các đầu mối liên kết vùng bền vững. Chúng ta chưa có nhiều doanh nghiệp có tâm và có tầm, am hiểu cả sản xuất nông nghiệp lẫn thị trường tiêu thụ nông sản. HTX là một mô hình đúng để liên kết cả khâu sản xuất lẫn tiêu thụ, tiếc là mô hình này hiện nay đều chưa có ban quản trị thực sự giỏi để điều hành hiệu quả.

​Phát triển bền vững cho trồng trọt Việt Nam - ảnh 2

Mặt khác, chúng ta cũng chưa có chính sách ưu đãi, tuyên truyền, khuyến khích người nông dân tham gia vào những liên kết bền vững, thay cho việc sản xuất manh mún. Chúng ta cũng thiếu công nghệ sau thu hoạch để lưu trữ và bảo quản dài hạn, dẫn đến tình trạng “được mùa mất giá”, trong khi những lúc thị trường khan hiếm thì không có hàng để bán. Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng cung vượt cầu và phát sinh tình trạng kêu gọi giải cứu.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Chúng ta thiếu thông tin thị trường. Chẳng hạn hiện nay Trung Quốc cũng đã trồng dưa hấu, thanh long… Chúng ta sản xuất nhiều nhưng nếu thời điểm thu hoạch của chúng ta trùng với với thời điểm thu hoạch của họ thì hàng hóa sẽ dư thừa, mất giá. Ngược lại, những lúc nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, thương nhân Trung Quốc sẵn sàng trả giá cao thu gom mua trái cây từ Việt Nam.

Đôi lúc việc xuất khẩu trái cây bị gián đoạn xuất phát từ một số lý do khách quan như thiên tai, dịch bệnh hay phía Trung Quốc thay đổi chính sách thương mại. Sự gián đoạn tạm thời khiến nguồn cung dư thừa. Về nguyên tắc, giá cả vận hành theo quy luật cung cầu của thị trường. Chúng ta nên nhìn nhận điều này một cách bình thường và tổ chức lại chuỗi sản xuất tốt hơn.

FORBES VIỆT NAM: Dư luận xã hội nói chung nhìn nhận thị trường và thương nhân Trung Quốc không mấy thiện cảm, nhìn nhận khách quan vấn đề này như thế nào?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Với hơn 1,4 tỉ dân, Trung Quốc là quốc gia nhập khẩu lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ và là thị trường hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới. Trung Quốc là công xưởng sản xuất của thế giới, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Kinh tế toàn cầu hiện đang phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung toàn cầu lấy quốc gia này làm trung tâm. Tầm quan trọng của Trung Quốc như vậy nên không quốc gia nào muốn bỏ qua cơ hội kinh doanh với thị trường này, trong đó có Việt Nam.

Đơn cử, trái thanh long Việt Nam giá thành sản xuất có thể vài ngàn đồng/kg nhưng thương nhân Trung Quốc sẵn sàng mua với giá 40 ngàn/kg. Sản xuất được điều tiết bởi thị trường, về kinh tế chúng ta không thể bỏ qua cơ hội kinh doanh, miễn là am hiểu luật chơi.

PHẠM QUỐC LIÊM: Đương nhiên quan hệ thương mại với một nước láng giềng có thị trường lớn như Trung Quốc chứa đựng cả cơ hội lẫn rủi ro. Về mặt khách quan, theo tôi, chúng ta nên xem xét thương mại được quyết định bởi quy luật cung cầu hơn là nhìn nhận nó qua lăng kính của những định kiến khác.

Ở đây, một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc nắm bắt thông tin thị trường. Một khi người dân càng nhiều thông tin về thị trường, họ càng biết chọn đúng mặt hàng và thời điểm để sản xuất. Trái lại, nếu không có đủ thông tin thì việc sản xuất hàng hóa có thể không đúng với nhu cầu và thời điểm mà thị trường cần, dẫn đến không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ được nhưng với giá thấp là điều khó tránh khỏi.

Có những mặt hàng chúng ta tiêu thụ tốt trong mùa này, nhưng mùa khác thì không, phần lớn là do nhu cầu của người tiêu dùng tại thị trường này có sự thay đổi theo mùa. Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận việc thiếu thông tin là một yếu tố trực tiếp cần được cải tiến tốt hơn, thay vì nghĩ đến những lý do gián tiếp khác trước.

Đối với các thương nhân Trung Quốc (cũng như Việt Nam), theo tôi, ở đâu cũng có người nọ, người kia, chúng ta nên tỉnh táo để biết “chọn bạn mà chơi”. Chúng ta nên ký hợp đồng thương mại, mua bán chính ngạch, thay vì giao dịch kiểu mậu biên đầy may rủi để tự đặt mình ở thế dưới tại các cửa khẩu như hiện nay. Đối với các trang trại hoặc nông hộ nhỏ, không đủ sức tự sản xuất kinh doanh, theo tôi con đường sản xuất, kinh doanh bền vững là hãy liên kết với các doanh nghiệp uy tín hoặc các HTX tốt.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nên thị trường này quan trọng với tất cả mọi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam có vị trí địa lý gần kề. Nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng của quốc gia này rất lớn, tập trung vào nhóm các sản phẩm rau quả tươi, thủy sản, thịt và sữa. Chúng ta không nên giữ cái nhìn định kiến không tốt về các thương nhân Trung Quốc.

Trước đây, rau củ quả Việt Nam xuất khẩu qua đường tiểu ngạch còn bị các mối lái nhỏ Trung Quốc chi phối, tiềm ẩn nhiều rủi ro kinh doanh. Nay Trung Quốc đã thay đổi chính sách cho phép chín loại trái cây Việt Nam xuất khẩu sang chính ngạch, có hợp đồng thương mại, giảm thiểu rủi ro ép giá. Việc xuất khẩu chính ngạch giúp kiểm soát chất lượng hàng tốt hơn, thị trường tin tưởng hơn nên về lâu dài gia tăng số lượng xuất khẩu.

ĐIỂM YẾU CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT

FORBES VIỆT NAM: Chỉ khoảng 5% sản phẩm rau quả Việt Nam được chế biến, trong đó cũng chủ yếu là sơ chế, tại sao tỉ lệ chế biến thấp như vậy?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Một nền nông nghiệp tốt phát triển bền vững cần hai yếu tố: nguyên liệu tốt và công nghệ chế biến bảo quản tốt. Nếu không xây dựng được song song hai yếu tố này thì không tránh khỏi bị lãng phí. Đơn cử, dù trồng cây trái gì, trái ngon, đẹp, đồng đều về kích cỡ cũng chỉ chiếm 30% sản lượng, loại này dùng xuất khẩu tươi để có được giá tốt nhất. 70% không đảm bảo mỹ quan bán tươi phải được đưa vào chế biến.

Ở Nhật Bản, riêng khoai lang đã có một viện nghiên cứu chế biến, chưa kể hàng trăm, hàng ngàn nông sản khác. Việt Nam chưa có các viện nghiên cứu chuyên biệt về trái cây, trong khi đó mỗi loại trái cây cần một công nghệ bảo quản chế biến khác nhau. Nghiên cứu chuyên sâu về bảo quản chế biến của chúng ta còn yếu. Trong các đợt trái cây dư thừa, Vinamit cũng được kêu gọi giải cứu nhưng bất lực.

​Phát triển bền vững cho trồng trọt Việt Nam - ảnh 3

Chúng tôi làm sản phẩm hữu cơ, nên nguyên liệu đầu vào cần đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra, có truy xuất nguồn gốc. Qua khảo sát sản phẩm cần giải cứu không sản xuất theo tiêu chuẩn nào. Công suất nhà máy cũng có hạn, cũng có kế hoạch sản xuất từ trước, không thể sản xuất khi không có thị trường đầu ra. Vì vậy, đầu tiên chúng ta phải tạo ra nguyên điểm liệu tốt, ổn định, tìm được đầu ra. Khi có hai yếu tố này, đầu tư dây chuyền chế biến trở thành bài toán tài chính.

PHẠM QUỐC LIÊM: Theo tôi, nhu cầu của thị trường nông sản chế biến ngày một thu hẹp dẫn đến việc đầu tư vào lĩnh vực chế biến chưa thực sự trở thành hấp dẫn các doanh nghiệp. Ở một đất nước nhiệt đới, trái cây, rau củ quả phong phú như Việt Nam, thông thường nhu cầu tiêu dùng của con người sẽ muốn sử dụng sản phẩm tươi ngon nhất, trừ phi họ không có cơ hội.

Vì vậy, dù vẫn luôn khuyến khích đầu tư vào công nghệ chế biến sâu để làm tăng giá trị nông sản, nhưng theo tôi, trước mắt các doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào công nghệ bảo quản nông sản để giữ sản phẩm dù chỉ có thể sản xuất trong một vụ nhất định, vẫn bảo quản tươi và cung ứng được quanh năm. Đáng tiếc, Việt Nam hiện chưa phát triển mạnh lĩnh vực này cả về nghiên cứu lẫn ứng dụng.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Chế biến chỉ 5% do thiếu Việt Nam chưa có công nghệ chế biến cao. Do đất đai manh mún và chưa có quy hoạch nên các vùng trái cây của Việt Nam phân tán nên khó thu mua, vận chuyển. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ, tiềm lực tài chính mỏng, chưa mạnh dạn đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại.

Mặt khác, trái cây Việt Nam đa dạng nhưng thường có thời vụ thu hoạch nhanh, thời hạn bảo quản ngắn, công nghệ bảo quản thấp. Chính những điều này gây khó khăn cho các nhà sản xuất đầu tư chế biến ở quy mô lớn. Giá cả nguyên liệu cũng thay đổi liên tục, bấp bênh khiến các nhà sản xuất thận trọng khi mở rộng chế biến ở quy mô lớn.

FORBES VIỆT NAM: Chúng ta cần làm gì để tạo ra các sản phẩm đạt quy chuẩn chất lượng để có thể bán ổn định ở thị trường quốc tế?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Trước khi nói về chất lượng sản phẩm tôi cho rằng chúng ta phải có hiểu biết thị trường. Nếu hiểu thị trường chúng ta có thể sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn và có khả năng ứng phó được các diễn biến bất ngờ. Chúng ta chưa xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp về các quốc gia trồng trọt khác về các thị trường tiêu thụ. Chỉ khi có dữ liệu chúng ta mới biết thị trường nhập khẩu thời điểm nào có nhu cầu về loại sản phẩm nào, chất lượng, giá mua ra sao?

Tương tự, chúng ta phải có thông tin các quốc gia cung cấp khác đang trồng trái cây nào, được hay mất mùa, sản lượng bao nhiêu, giá bán dự kiến, để từ đó, vạch kế hoạch kinh doanh. Tôi cho rằng chính phủ phải đóng vai trò dẫn dắt, đầu tàu, tập hợp thu thập dữ liệu, thông tin cho các hiệp hội, các hiệp hội sẽ thông tin cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất. Khi có thông tin dữ liệu về thị trường chúng ta sẽ quyết định sản xuất.

Thế giới nói chung không đòi hỏi tiêu chuẩn VietGAP hay GlobalGAP mà yêu cầu sản phẩm an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng, truy xuất được nguồn gốc, chất lượng đạt quy chuẩn thị trường đó. Việc sản xuất phải bắt đầu từ việc có thông tin đầy đủ, hiểu rõ được thị trường, không như nông dân chúng ta hiện nay chỉ biết trồng trọt và việc tiêu thụ phụ thuộc vào các thương lái.

PHẠM QUỐC LIÊM: Thực tế các nhà nhập khẩu quốc tế không đặt ra yêu cầu cụ thể về việc trang trại hay sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn GAP, kể cả GlobalGAP. Điều họ cần là nông sản phải thực sự an toàn đúng nghĩa, không chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao hơn mức dư lượng tối đa theo danh mục mà các quốc gia nhập khẩu cho phép.

Một lần nữa, để làm được việc này thì người sản xuất cần am hiểu sâu sắc về thị trường và những yêu cầu của thị trường định xuất khẩu, trên cơ sở đó tổ chức sản xuất cho phù hợp. Mặc dù yêu cầu này của các nhà nhập khẩu là minh bạch, nhưng thông thường các trang trại hay nông hộ cá thể lại khó làm được, do thiếu cả thông tin và kinh nghiệm tổ chức sản xuất trên quy mô lớn. Một lần nữa, tôi nhấn mạnh chúng ta phải liên kết. Bởi lẽ, đôi khi chúng ta chỉ nắm vững yêu cầu, tiêu chuẩn thôi là chưa đủ.

Làm nông sản tử tế thực sự không dễ, cần phải có cái tâm và sự kiên quyết, chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế tại một số thời điểm nào đó chứ không chạy theo lợi ích ngắn hạn mà phá vỡ mối liên kết: được giá thì “xé” hợp đồng không bán cho doanh nghiệp, rớt giá thì doanh nghiệp “chạy làng” không thu mua sản phẩm của nông dân.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Đất đai trồng trọt của Việt Nam đa số manh mún nhỏ lẻ, nên theo tôi cần tập hợp, đẩy mạnh phong trào tham gia các HTX sản xuất hoặc nông trại quy mô lớn. Chỉ sản xuất ở quy mô lớn chúng ta mới có thể tạo ra sản phẩm chất lượng đồng đều, áp dụng cơ giới hóa, khoa học kỹ thuật, đạt được các chứng nhận sản xuất an toàn như GlobalGAP đủ điều kiện xuất khẩu.

TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT

FORBES VIỆT NAM: Chúng ta cần làm gì để nâng cao tỉ lệ chế biến, đặc biệt chế biến sâu gia tăng giá trị cho ngành nông nghiệp và hạn chế bớt sự bấp bênh của thị trường?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Như trên đã nói, chúng ta phải kinh doanh dựa vào thị trường. Chính phủ phải tham gia vào thị trường đúng nghĩa, tổ chức hình thành các hiệp hội mạnh có bộ máy điều hành quản lý chuyên nghiệp, hình thành các trung tâm phân phối nông sản, điều tiết sản xuất dựa trên các thông tin, dữ liệu thị trường. Các trung tâm này thường do hiệp hội ngành hàng, hội nông dân, hay doanh nghiệp đứng ra tổ chức, có sự giám sát của chính quyền tại chỗ hoặc các ngành chức năng.

Các trung tâm vừa phân loại, có công nghệ bảo quản, sơ chế, điều phối các đơn vị sản xuất phù hợp với từng thị trường, vừa cung cấp thông tin sản phẩm tới các nhà chế biến xuất khẩu. Các trung tâm bám sát vùng nguyên liệu, hướng dẫn nông dân canh tác theo đúng quy trình kỹ thuật canh tác, đảm bảo những yêu cầu về an toàn thực phẩm và truy xuất được nguồn gốc. Việc này phải có người khởi xướng, dẫn dắt và vai trò đó thuộc về chính phủ.

PHẠM QUỐC LIÊM: Theo tôi, vẫn là phải nắm rõ nhu cầu thị trường đối với các mặt hàng nông sản chế biến. Hiện nay, vấn đề về chế biến nông sản luôn là chủ đề nóng khi các doanh nghiệp lớn bàn về vấn đề giải cứu nông sản. Tôi biết có những doanh nghiệp ấp ủ dự án nhà máy chế biến với quy mô cực lớn, nhưng sau vài năm vẫn loay hoay vì công nghệ sản xuất thiếu cả nguồn nguyên liệu lẫn thị trường.

​Phát triển bền vững cho trồng trọt Việt Nam - ảnh 4

Để giải quyết được các điểm thiếu này, cần nỗ lực từ mọi thành phần tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà vai trò chính theo tôi, nằm ở các doanh nghiệp lớn, có khả năng dẫn dắt cuộc chơi. Đương nhiên vẫn rất cần các chính sách ưu đãi từ chính phủ, công tác tuyên truyền của truyền thông, khuyến nông…

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Theo tôi, nhà nước cần kêu gọi thu hút vốn đầu tư FDI từ các nước có công nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp trồng trọt, chế biến bằng các chính sách hấp dẫn hơn nữa như giảm thuế, phí. Song song, chúng ta cũng cần có biện pháp khuyến khích giảm thuế cho các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, đầu tư phát triển công nghệ cao trong ngành nông nghiệp, máy móc chế biến sâu, tự động hóa.

FORBES VIỆT NAM: Ngành trồng trọt Việt Nam cần tổ chức lại chuỗi giá trị và chuỗi sản xuất như thế nào để gia tăng giá trị và hiệu quả

 NGUYỄN LÂM VIÊN: Việt Nam hiện nay có hai trường phái sản xuất nông nghiệp. Trường phái thứ nhất là nông pháp hóa học, lấy hóa học làm nền tảng sản xuất, tất cả quy về hóa học, xác lập cân bằng môi trường dựa trên nền tảng hóa học. Trường phái thứ hai là nông pháp sinh học, sản xuất dựa trên sự cân bằng sinh học, phát triển can thiệp tự nhiên.

Theo tôi, thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có những vùng có đủ điều kiện để sản xuất sinh học thì không nên sử dụng hóa học khi ngôi nhà nuôi dưỡng vi sinh vật đã rất tốt bao gồm thức ăn, độ ẩm, oxy, nhiệt độ. Chẳng hạn như vùng đồng bằng sông Cửu Long được phù sa bồi đắp, thích hợp để phát triển nền nông nghiệp hữu cơ. Ngược lại, có những vùng khí hậu khắc nghiệt như Ninh Thuận, Bình Thuận buộc phải sử dụng nông pháp hóa học, nếu đi phát triển hữu cơ thì không hiệu quả, lãng phí.

Trung Quốc có hai mùa, họ cũng có thích hợp cho phát triển nông nghiệp vào mùa nóng. Tuy nhiên họ vẫn ưa thích trái cây nhiệt đới từ Việt Nam vì sản phẩm vẫn còn giữ hương vị tự nhiên. Nếu chúng ta chạy theo sản lượng, đẩy mạnh phương pháp canh tác hóa học, trái cây đánh mất dần hương vị tự nhiên, vô hình đánh mất lợi thế cạnh tranh, sẽ có lúc chính họ sẽ quay lưng với sản phẩm Việt Nam.

PHẠM QUỐC LIÊM: Như đã nói ở trên, cần tổ chức những liên kết vùng, lấy nông dân và doanh nghiệp hay HTX (hoạt động hiệu quả) làm trung tâm của liên kết. Theo đó, các vệ tinh của liên kết sẽ là những nông dân có quyết tâm và thái độ nghiêm túc, muốn phát triển theo hướng ổn định, bền vững.

Doanh nghiệp muốn được chọn làm trung tâm thì phải có đủ năng lực (cả về mặt sản xuất lẫn khai thác thị trường – trong nước và quốc tế), đồng thời được tạo cơ hội để phát triển vùng sản xuất riêng, đủ lớn, làm nền tảng để chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản xuất cho các hộ nông dân trong mối liên kết. Đương nhiên, mô hình tổ chức này rất cần vai trò điều tiết của Nhà nước (xây dựng chính sách), nhà khoa học, cơ quan truyền thông, các tổ chức tài chính và cả các nhà bán lẻ trong nước. Chỉ nói liên kết bốn nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nước) như hiện nay theo tôi là chưa đủ.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Việt Nam cần tổ chức lại ngành nông nghiệp, xây dựng hình thành các chuỗi liên kết từ khâu chọn giống, trồng trọt, thu hái chế biến, đóng gói bảo quản đến vận chuyển xuất khẩu. Theo tôi, mô hình phù hợp với sự phân tán sở hữu manh mún của Việt Nam hiện nay là mô hình liên kết HTX. Một khó khăn cho các nông hộ trong sản xuất nông nghiệp là hạn chế về tài chính để đầu tư máy móc thiết bị.

HTX có thể đóng vai trò một tổ chức bảo lãnh tín chấp cho nông dân vay kinh doanh, có vốn giúp họ áp dụng cơ giới hóa, áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến. HTX cũng giúp nông dân nhận chuyển giao kỹ thuật canh tác, tham khảo các thông tin thị trường đầu ra áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng ra các sản phẩm đồng đều. Mô hình này cũng phát huy hiệu quả quản lý khi tự bản thân các thành viên tự giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.

FORBES VIỆT NAM: Kinh nghiệm ở các quốc gia láng giềng thành công với ngành trồng trọt có gợi mở gì cho Việt Nam tổ chức lại ngành?

NGUYỄN LÂM VIÊN: Do chính sách quản lý đất đai, chúng ta đã hình thành lĩnh vực trồng trọt với nhiều hộ tiểu nông. Nếu sản xuất ở quy mô lớn, với các nông hộ sản xuất lớn có thể áp dụng cơ giới. Trong sản xuất cơ giới, một số có khuynh hướng dịch chuyển sang canh tác hóa học, nếu thiên về sinh học thì cũng cần con người. Người nông dân Việt Nam có một đặc tính yêu thích mảnh vườn của mình dồn hết tâm trí cho nó. Vì vậy, chẳng thà chấp nhận các hộ tiểu nông.

Nền trồng trọt Nhật Bản, Đài Loan cũng là các hộ tiểu nông nhưng họ có hàng trăm trung tâm nối kết các hộ sản xuất, cung cấp giải pháp, tập huấn kỹ thuật nông dân có nhiệm vụ trồng trọt, việc cải tạo cánh đồng, trồng giống gì, bón phân loại nào thì được cung cấp... Nếu xây dựng các mắt xích trung gian sẽ có cầu nối thị trường chuyển thông tin cho nông dân hiểu rõ nên như thế này thế khác thì sẽ hình thành chuỗi sản xuất hiệu quả.

PHẠM QUỐC LIÊM: Thái Lan làm rất tốt mô hình liên kết với các HTX mạnh và được nhà nước ủng hộ mạnh mẽ về giống, nguồn tài chính ưu đãi, hỗ trợ để đầu tư nông nghiệp công nghệ cao, sơ chế, chế biến, bảo quản nông sản. Philippines thành công trong việc thu hút những doanh nghiệp lớn hàng đầu thế giới trong ngành nông sản như Dole, Del Monte… giữ vai trò trung tâm sản xuất, chuyển giao và bao tiêu sản phẩm.

Tại Phillipines người dân trồng chuối nắm rất rõ Trung Quốc có trồng chuối không, trồng ở đâu, vào thời điểm nào thu hoạch, cần phải nhập khẩu bù đắp nguồn cung thiếu hụt từ nước khác trong thời điểm nào, giá bán cụ thể dự kiến tại một thời điểm nhất định là bao nhiêu, quy cách, chất lượng sản phẩm ra sao. Từ đó họ sẽ quyết định tổ chức sản xuất để cung ứng mặt hàng gì, quy cách chất lượng như thế nào, sản lượng bao nhiêu, tại thời điểm nào.

Trái lại, tại Việt Nam dù có nhiều cơ quan về xúc tiến thương mại, khuyến nông, truyền thông nhưng lại chưa có cơ quan nào cung cấp toàn diện các thông tin về thị trường. Từ việc thiếu thông tin thị trường, người nông dân có xu hướng tiếp tục sản xuất theo tập quán và phong trào, không gắn với nhu cầu thị trường. Hàng hóa sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ qua thương lái, một số doanh nghiệp thu mua nông sản cũng xuất khẩu đường tiểu ngạch thay vì chính ngạch.

Thậm chí, thời gian qua có một số sản phẩm trái cây Việt Nam phải mượn xuất xứ nước khác để vào thị trường Trung Quốc do quốc gia này chưa mở cửa với một số trái cây Việt Nam như sầu riêng, bưởi da xanh… Theo tôi chúng ta phải hình thành các mối liên kết mạnh và kinh doanh xuất phát từ nhu cầu, thông tin của thị trường.

ĐẶNG PHÚC NGUYÊN: Tôi nghĩ Việt Nam có thể tham khảo mô hình phát triển của Thái Lan, họ có các viện nghiên cứu giống khá mạnh. Chính phủ đặt hàng các viện nghiên cứu các loại giống mới ưu việt, sau đó phân phối lại cho nông dân. Họ có mô hình HTX thành công, có chính ưu đãi về tài chính cho nông dân, khuyến khích đầu tư công nghệ cao vào bảo quản và chế biến.

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 83, tháng 4.2020 


Đọc thêm >>>
Long Sơn Group: Sẵn sàng thay đổi
CEO Hải Nam Nguyễn Thị Thu Sắc: Chọn lối đi riêng
Dabaco: Những miếng ghép mô hình chăn nuôi quy mô lớn
Lộc Trời thay tổng giám đốc, cựu phó thủ tướng Đức ngồi ghế hội đồng quản trị
CEO Khải Hoàn: Khởi nghiệp tuổi ngũ tuần


"Những người dân khỏe mạnh là tài sản lớn nhất của bất cứ quốc gia nào". ---- Winston Churchill - Chính trị gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 87 tháng 8.2020

 Số 87 tháng 8.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - CÂU CHUYỆN DUY TÂN

    Sau 33 năm kinh doanh, Duy Tân thành doanh nghiệp nhựa dân dụng hàng đầu Việt Nam.

  • - THAM VỌNG MÀU HỒNG

    Con Cưng, xây dựng hệ thống hơn 4000 cửa hàng và tham vọng đưa doanh số tới cột mốc một tỉ đô la Mỹ.

  • - CHUỖI NHA KHOA MỚI

    Chuỗi nha khoa Kim, đẩy nhanh tốc độ mở chuỗi và xây dựng thương hiệu bằng số hóa sau mới 4 năm có mặt trên thị trường.

  • LÀM ĐẸP TÓC NAM

    30Shine - thương hiệu trẻ quy chuẩn hóa dịch vụ cắt tóc nam với sự giúp sức của công nghệ.

  • - NỀN TẢNG SỐ THAY ĐỔI XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

    Chia sẻ của các chuyên gia hàng đầu về chủ đề xây dựng thương hiệu trong kỷ nguyên số.

  • - SỰ KIỆN CÔNG NGHỆ KHÁM PHÁ KHO BÁU MIDAS

    Thông tin sự kiện Công nghệ Khám phá kho báu Midas do Forbes Việt Nam tổ chức ngày 16.7. Trình bày về các lĩnh vực công nghệ như 5G, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cũng như thách thức doanh nghiệp sử dụng dữ liệu tạo ra lợi thế cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ mới.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT HÀN QUỐC