Những khó khăn ngày càng gia tăng trong thương mại toàn cầu khiến chi tiêu hộ gia đình và tiêu dùng nội địa càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa đối với sự phục hồi kinh tế.

TRONG TÌNH TRẠNG VÔ CÙNG BẤT ỔN HIỆN NAY, điều chúng ta nên làm là nhìn lại quá khứ để hình dung về tương lai. Một góc nhìn quá khứ liên quan tới nợ của hộ gia đình trong thập niên trước khi xuất hiện đại dịch Covid-19.

Ở các quốc gia có nợ hộ gia đình cao và đang gia tăng, người tiêu dùng có xu hướng không chi tiêu, ngay cả khi được chính phủ cấp tiền hỗ trợ. Thay vào đó, số tiền dư thừa có xu hướng được chuyển sang trả nợ hoặc tiết kiệm cho những ngày khó khăn.

Hộ gia đình là nhân tố quan trọng giúp phục hồi kinh tế - ảnh 1

Yuwa Hedrick-Wong, nhà bình luận kinh tế cao cấp của Forbes Asia, giảng viên thỉnh giảng trường chính sách công Lý Quang Diệu, đại học quốc gia Singapore. 

Điều này có nghĩa là chi tiêu của người tiêu dùng trong tương lai có thể sẽ suy yếu đi và niềm tin tiêu dùng bị lung lay và mong manh hơn. Tình trạng này sẽ càng nới rộng hơn trong quá trình phục hồi sau Covid-19.

Tuy nhiên, cơ cấu nợ của hộ gia đình ở các quốc gia khác nhau. Ví dụ, ở Úc và Canada, nợ hộ gia đình tính theo phần trăm GDP đã tăng đáng báo động, lên hơn 100% trong giai đoạn từ 2010 đến 2019. Tại Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy và Thụy Điển, nợ hộ gia đình năm 2019 lần lượt là 128%, 103%, 110% và 92% GDP.

Ngược lại, Đức, Tây Ban Nha, Anh và Hoa Kỳ (ít chắc chắn hơn), nợ hộ gia đình giảm trong cùng giai đoạn, xuống còn khoảng 70-80% GDP trong năm 2019. Ở các nước châu Á mới nổi – gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan, nợ hộ gia đình thấp hơn nhiều.

Vì chi tiêu của người tiêu dùng là một trong các yếu tố cấu thành GDP nên có thể tạo ra tác động quan trọng đến tăng trưởng chung. Theo ngân hàng Thế giới, chi tiêu của người tiêu dùng trung bình chiếm 60% GDP ở các nước OECD (tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), tỷ lệ này ở Hoa Kỳ và vương quốc Anh cao hơn, lần lượt là 66% và 68%.

Con số này thậm chí còn cao hơn ở Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy và Thụy Điển, với các mức lần lượt là 71%, 69%, 71% và 68%. Chi tiêu của người tiêu dùng tương đối thấp hơn ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Thái Lan – từ 40% đến 50% GDP.

Nếu mọi yếu tố khác đều bằng nhau, thì 5% thay đổi trong chi tiêu tiêu dùng – cao hơn hoặc thấp hơn – sẽ đẩy GDP tăng hoặc giảm trung bình 3% ở các nước OECD, 3,3% ở Mỹ và Anh, khoảng 3,5% ở ba quốc gia Bắc Âu và Hà Lan.

Ở nhiều nước châu Á, tác động tương ứng đối với GDP sẽ thấp hơn, từ 2-2,5%. Những khó khăn ngày càng gia tăng trong thương mại toàn cầu khiến tiêu dùng nội địa đóng vai trò thậm chí còn quan trọng hơn đối với sự phục hồi kinh tế. Qua các góc nhìn về quá khứ, chúng ta có thể phân biệt ba nhóm quốc gia khác nhau.

Nhóm thứ nhất bao gồm Úc, Canada, Hà Lan và ba quốc gia Bắc Âu, tất cả đều có nợ hộ gia đình cao và đang tăng lên, kết hợp với tỷ lệ chi tiêu của người tiêu dùng cao so với GDP. Chính sách kích thích tài chính ở những nước này sẽ không thể khiến các hộ gia đình mắc nợ nhiều gia tăng chi tiêu. Do chiếm tỷ trọng cao trong tổng thể GDP, nên nếu chi tiêu của người tiêu dùng yếu đi sẽ làm suy yếu sự phục hồi của các quốc gia này.

Nhóm thứ hai bao gồm các quốc gia OECD khác, có Anh và Mỹ, nơi nợ hộ gia đình thấp hơn, nhưng chi tiêu của người tiêu dùng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP. Ở những quốc gia này, chi tiêu của người tiêu dùng vẫn có thể thúc đẩy sự phục hồi và do đó, kích thích tài chính có thể tỏ ra hiệu quả.

Nhóm thứ ba bao gồm các thị trường mới nổi của châu Á. Do tỷ lệ nợ của hộ gia đình ở mức tương đối thấp và chi tiêu của người tiêu dùng chiếm tỷ lệ nhỏ, kích thích tài chính sẽ mang lại hiệu quả nhiều hơn trong việc gia tăng chi tiêu của người tiêu dùng và thúc đẩy phục hồi.

Quan trọng hơn hết, kích thích tài chính ở các nền kinh tế này sẽ gia tăng tỷ trọng chi tiêu của người tiêu dùng trong GDP, làm cho nền kinh tế trong nước trở nên mạnh mẽ hơn và ít phụ thuộc hơn vào xuất khẩu.

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 89, tháng 10.2020


 Đọc thêm >>>
Khi thế giới ngập trong nợ nần
Xu hướng nào trong hoạt động M&A tại Việt Nam?
Các chuyên gia châu Á: Thế giới hậu Covid-19 sẽ ra sao?
Ngân hàng trung ương “in tiền” và bong bóng tài sản
Đổi mới khi cần thiết
Ranh giới giữa khủng hoảng và suy thoái


"Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình". ---- Socrates - Triết gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 89 tháng 10.2020

 Số 89 tháng 10.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - DANH SÁCH 10 NGÂN HÀNG KINH DOANH HIỆU QUẢ NHẤT

    Các ngân hàng tư nhân năng động chiếm tỉ lệ áp đảo và xuất hiện ở các vị trí dẫn đầu.

  • - HÀNH TRÌNH CHINH ĐÔNG

    Đặt ưu tiên hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững, ông Trịnh Văn Tuấn xây dựng ngân hàng Phương Đông theo một lối riêng.

  • - THÀNH TỰU HAI THẬP NIÊN XÂY NỀN

    Nhiều năm ở chiếu dưới, Manulife Việt Nam vươn lên dẫn đầu thị phần bảo hiểm khai thác mới.

  • ĐƯỜNG ĐẾN SIÊU ỨNG DỤNG

    Có trong tay 20 triệu người dùng, MoMo đặt mục tiêu 50 triệu khách hàng và thành siêu ứng dụng.

  • - SỰ TRỞ LẠI CỦA “NGƯỜI CŨ”

    Ông Huỳnh Thanh Phong dẫn dắt FWD, gương mặt mới trong làng bảo hiểm, nhanh chóng phát triển.

  • - PHỎNG VẤN: TÌM KIẾM TRẢI NGHIỆM VƯỢT TRỘI

    Thực trạng, cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số của ngân hàng theo quan điểm lãnh đạo ngân hàng VIB.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT SINGAPORE