Sự đứt gãy của chuỗi cung ứng trong đại dịch Covid-19 cho thấy sự phụ thuộc của toàn cầu vào Trung Quốc. Sau thương chiến Mỹ - Trung, Covid-19 tiếp nối làn sóng thúc đẩy dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc nhanh hơn. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có cơ hội hưởng lợi và có thể kỳ vọng về làn sóng đầu tư thứ tư.

FDI: Kỳ vọng làn sóng thứ tư - ảnh 1

Intel được xem là đại diện của làn sóng FDI thứ ba vào Việt Nam những năm cuối thập niên 2000, đánh dấu bước chuyển quan trọng về chất khi dòng vốn dịch chuyển vào sản xuất và lĩnh vực công nghệ.

VÀO GIỮA THÁNG 5, trên mạng xã hội và một số diễn đàn công nghệ xuất hiện hình ảnh mẫu tai nghe AirPods Pro với dòng chữ “Assembled in Vietnam” (lắp ráp tại Việt Nam) trên vỏ hộp. Ở thời điểm câu chuyện dịch chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc đang nóng lên, hình ảnh chia sẻ được quan tâm đặc biệt với cộng đồng ưa thích sản phẩm công nghệ có logo hình táo khuyết.

Có mặt tại Việt Nam từ năm 1996, Panasonic hiện có tám công ty hoạt động tại Việt Nam, năm nhà máy sản xuất của tập đoàn Nhật Bản đặt tại Hà Nội, Hưng Yên, TP.HCM và Bình Dương. Panasonic đã rót tổng vốn đầu tư 243 triệu USD vào Việt Nam, tỉ lệ nội địa hóa theo công bố đạt 30%. Dù số vốn đầu tư chưa hẳn nổi bật nhưng Panasonic nằm trong nhóm các tập đoàn đa quốc gia có mặt tại Việt Nam sớm nhất vào giữa thập niên 1990.

Làn sóng đầu tư thứ nhất, giai đoạn 1993-2000, hình thành khi Việt Nam ban hành luật Đầu tư nước ngoài và chính phủ Hoa Kỳ cho phép các công ty Hoa Kỳ có thể mở văn phòng đại diện tại Việt Nam vào năm 1992. Đặc biệt, việc Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận thương mại Việt Nam năm 1994 và sau đó một năm đưa quan hệ hai nước bình thường hóa mở ra một chương mới trong quan hệ song phương và kinh tế đối ngoại của Việt Nam với thế giới.

Được bật đèn xanh, nhiều tập đoàn đa quốc gia ồ ạt rót vốn vào Việt Nam, đầu tư trực tiếp tập trung trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, điện tử, lắp ráp và thăm dò dầu khí. Hoa Kỳ trở thành một trong các tên tuổi đáng chú ý nhất với sự xuất hiện của các ông lớn như Pepsico, Coca-Cola, Cargill, 3M, P&G...

Sự gần gũi về văn hóa và khoảng cách địa lý khiến các tập đoàn lớn Đông Á không muốn bỏ qua cơ hội kinh doanh ở một thị trường sơ khai nhưng kèm với nhiều cơ hội và sự tưởng thưởng. Lần lượt các ông lớn như Hyundai, LG (Hàn Quốc), Toyota Motor, Honda Motor, Panasonic, Sony (Nhật Bản) tới Việt Nam. Phần lớn lập liên doanh với đối tác Việt Nam, một số đầu tư trực tiếp 100% vốn.

Trong lĩnh vực khai thác thăm dò dầu khí, kinh doanh thượng và hạ nguồn, nhiều tên tuổi lớn trong ngành dầu khí thế giới cũng có mặt ở Việt Nam giai đoạn này hợp tác với Petro Việt Nam, những cái tên đáng chú ý như Royal Dutch Shell (Bỉ), Total (Pháp), BP (Anh), Chervon (Mỹ), Gazprom (Nga)…

GIAI ĐOẠN 2001-2007 diễn ra làn sóng đầu tư trực tiếp thứ hai sau khi Việt Nam – Hoa Kỳ ký kết hiệp định thương mại song phương BTA vào cuối năm 2000, mở ra cánh cửa  xuất khẩu hàng hóa “made in Vietnam” sang quốc gia bên kia bán cầu.

Những năm đầu thiên niên kỷ mới, dòng vốn FDI tăng trưởng mạnh trong những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế xuất khẩu sang Mỹ, đặc biệt ở những lĩnh vực thâm dụng lao động như may mặc, da giày, đồ gỗ. Ở làn sóng này, vốn FDI xuất phát chủ yếu là từ “các nhà máy đối tác” của các ông lớn may mặc, giày dép đặt tại Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.

Việc Việt Nam trở thành thành viên WTO vào năm 2006 khởi phát cho làn sóng đầu tư thứ ba bắt đầu từ năm 2007. Khác với hai làn sóng đầu tư trước đó, làn sóng đầu tư thứ ba đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về chất khi dòng vốn đầu tư tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, gắn với nhiều tên tuổi đình đám như Intel, Samsung, Foxconn, Compal, Nokia...

Thương vụ tiêu biểu trong giai đoạn này là việc tập đoàn Intel (Mỹ) đầu tư 1 tỉ USD xây dựng nhà máy chip bán dẫn tại khu công nghệ cao TP.HCM đi vào hoạt động từ năm 2010.

Thương vụ quy mô nhất gắn với tập đoàn Hàn Quốc Samsung. Sau khi rót 2,5 tỉ USD đầu tư vào Bắc Ninh năm 2008, tập đoàn Hàn Quốc đầu tư 5 tỉ USD xây dựng tổ hợp sản xuất lắp ráp sản phẩm Samsung tại Thái Nguyên vào năm 2013. Ba năm sau đó, tại TP.HCM, tập đoàn Samsung đầu tư 2 tỉ USD vào dự án Samsung CE Complex tại khu công nghệ cao TP.HCM. 

Ở làn sóng thứ ba, “khẩu vị” đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đã có sự thay đổi, thay vì hướng vào các ngành thâm dụng lao động thì tăng cường đầu tư các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Từ năm 2013 tới nay, khi đầu tư trực tiếp xuất hiện các thương vụ tỉ đô trong lĩnh vực sản xuất và công nghệ cao thì sự phát triển của các công ty tư nhân Việt Nam và sự phục hồi của thị trường chứng khoán cũng kéo theo nhiều thương vụ đầu tư gián tiếp với quy mô lớn, mua cổ phần với mục đích kiểm soát các công ty Việt Nam, nhóm các doanh nghiệp có thương hiệu, thị phần.

FDI: Kỳ vọng làn sóng thứ tư - ảnh 2

Thương vụ đình đám quy mô nhất là việc ThaiBev (vị trí 1002 trong danh sách Global 2000) rót 4,8 tỉ USD kiểm soát 53% cổ phần Sabeco, thương hiệu bia Việt Nam chiếm hơn 40% thị phần nội địa. Một thương vụ đình đám khác đáng nhắc đến là Mondelez International (vị trí 188) rót 475 triệu USD mua toàn bộ mảng bánh kẹo của Kinh Đô năm 2014.

Các thương vụ nổi bật đáng chú ý khác gồm: The Nawaplastic Industries (Saraburi) – thành viên của tập đoàn SCG (693), Thái Lan, kiểm soát 54,39% cổ phần công ty cổ phần Nhựa Bình Minh, thương hiệu ống nhựa xây dựng chiếm gần 50% thị phần khu vực phía Nam; Domesco trở thành một thành viên của Abbott Laboratories (158) khi tập đoàn dược phẩm Mỹ kiểm soát gần 52% cổ phần; Taisho Pharmaceutical mua kiểm soát 51% cổ phần Dược Hậu Giang, công ty dược nội địa dẫn đầu về doanh thu sản xuất…

Theo thống kê của bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau 30 năm thu hút vốn đầu tư FDI, 63/63 tỉnh thành tại Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài, địa phương dẫn đầu là TP.HCM, Vũng Tàu, Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai. Xét về quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam thu hút vốn FDI từ hơn 120 quốc gia, dẫn đầu xét về quy mô đầu tư là Hàn Quốc, Nhật Bản, Hong Kong, Đài Loan, Singapore…

Các doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào 19 trong tổng số 21 phân ngành kinh tế, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo chiếm tỉ trọng lớn nhất, kế tiếp là kinh doanh bất động sản. Theo thống kê của cục Đầu tư nước ngoài, bộ Kế hoạch và Đầu tư, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam.

Cụ thể, nếu năm 1992, đóng góp của vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 2% GDP, năm 2005 chiếm khoảng 15% và năm 2019 tăng lên 20% GDP. Giai đoạn 1991 – 1995 xuất khẩu của khu vực FDI đạt lũy kế khoảng 1,12 tỉ USD thì năm 2019 các doanh nghiệp nước ngoài đạt hơn 180 tỉ USD, đóng góp gần 70% kim ngạch xuất khẩu.

Đầu thập niên 1990 lực lượng lao động nằm trong khu vực FDI chiếm khoảng 0,04% chủ yếu nhân viên tại các văn phòng đại diện thì năm 2019 khối doanh nghiệp FDI hút 4 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác.

30 năm trước ngoài dầu thô và gạo, Việt Nam không có mặt hàng xuất khẩu nào vượt quá 100 triệu USD/năm thì cuối năm 2019, Việt Nam có tới 32 ngành hàng xuất khẩu kim ngạch vượt 1 tỉ USD. Trong đó các mặt hàng điện tử, linh kiện máy tính dẫn đầu, phần lớn tỉ trọng sản phẩm của nhóm ngành này từ khối doanh nghiệp FDI, trong đó tập đoàn Samsung chiếm khoảng 1/4.

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đánh giá dòng vốn FDI là nhân tố quan trọng giúp phát triển nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ mới tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như: dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, ximăng.

Trong lĩnh vực dịch vụ, dòng vốn FDI tạo cú hích giúp nhiều ngành dịch vụ nội địa khởi sắc như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistics, khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê...

NHƯNG TẤM HUY CHƯƠNG NÀO CŨNG CÓ MẶT TRÁI. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá vốn FDI đầu tư vào Việt Nam vẫn tập trung ở các ngành chế tạo, chế biến, thâm dụng lao động, những ngành đòi hỏi kỹ năng thấp, kết nối yếu với các doanh nghiệp nội địa. Mặc dù dòng vốn FDI đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao của Việt Nam nhưng tỉ lệ nhập khẩu nguyên liệu lớn.

Theo ước tính của tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thuộc World Bank cứ mỗi 1 USD xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam cần khoảng 0,40 USD sử dụng vật tư nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ hàm lượng nhập khẩu trong xuất khẩu của Việt Nam ở quy mô cao hơn gấp năm lần so trung bình quốc tế.   

Theo một nghiên cứu khác từ hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản, tỉ lệ mua sắm linh kiện từ các công ty Việt Nam của các doanh nghiệp Nhật Bản thấp hơn hẳn so với hai quốc gia láng giềng là Thái Lan và Indonesia.

Báo cáo “Vốn đầu tư nước ngoài thực trạng và giải pháp” của viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chấm phá một số điểm yếu khác: “Cho dù tác động tích cực từ việc cung cấp hàng hóa đầu vào cho doanh nghiệp FDI nhưng do doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ, thiếu vốn, dây chuyền lạc hậu nên chưa tận dụng được hết cơ hội thông qua doanh nghiệp FDI để cung cấp hàng hóa, kết nối nguồn vốn và công nghệ nước ngoài với trong nước nhằm nâng cao năng lực.”

FDI: Kỳ vọng làn sóng thứ tư - ảnh 3

Trả lời phỏng vấn Forbes Việt Nam, bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đánh giá, thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị còn hạn chế, đặc biệt là trong các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao. Tỷ lệ nội địa hóa bình quân hiện nay chỉ đạt 33%, cho thấy mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, chủ yếu tham gia ở các công đoạn “thuần gia công” trong chuỗi giá trị, với giá trị gia tăng khiêm tốn.

Bên cạnh đóng góp tích cực, khối doanh nghiệp FDI cũng tạo ra nhiều tiêu cực về ô nhiễm môi trường, hiện tượng chuyển giá, trốn thuế. Chẳng hạn, sau vụ Vedan xả nước thải gây ô nhiễm môi trường, một sự việc nổi cộm, dậy sóng dư luận năm 2016 là việc công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiễm nặng nề vùng biển miền Trung.

Năm 2008, tập đoàn Sony (Nhật Bản) rút hoạt động sản xuất ra khỏi Việt Nam sau 14 năm đầu tư trực tiếp. Thời điểm đó, các chuyên gia trong ngành lý giải tập đoàn này đã tận dụng tối đa chính sách ưu đãi về thuế về nhập khẩu, lắp ráp linh kiện, sau khi các hiệp định thương mại có hiệu lực, đóng cửa nhà máy chuyển sang kinh doanh phân phối.

Một vụ việc tốn nhiều giấy mực của báo chí, cuối năm 2019 cơ quan thuế công bố quyết định xử phạt và truy thu thuế hơn 35 triệu USD với Coca-Cola, một tên tuổi lớn có mặt tại Việt Nam từ giữa thập niên 1990.

Trở lại với kỳ vọng đón nhận làn sóng chuyển dịch sản xuất sắp tới, ông Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Đầu tư, trưởng phòng Nghiên cứu của Dragon Capital nhận xét sẽ quá lạc quan và duy ý chí nếu cho rằng Việt Nam đủ khả năng hấp thụ hết làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng và sản xuất ra khỏi Trung Quốc, khi hạ tầng, dịch vụ logistics và lao động nội địa còn những hạn chế về quy mô và chất lượng.

Tuy nhiên, chuyên gia của Dragon Capital cho rằng nếu chính phủ đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng, chuẩn bị cơ sở vật chất đón nhận vốn đầu tư thì Việt Nam nằm trong nhóm các ứng cử viên sáng giá nhất, cạnh tranh thu hút các tên tuổi lớn nhất thế giới. “Đây là cơ hội sáng sủa nhất với Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài trong 30 năm qua,” ông Tuấn nói với Forbes Việt Nam.

Cuối tháng 5, Chính phủ Việt Nam đã thành lập tổ công tác đặc biệt nhằm đón đầu làn sóng đầu tư khi thế giới tái định vị chuỗi cung ứng và sản xuất sau đại dịch Covid-19.

30 năm, với ba làn sóng đầu tư, sóng sau xô sóng trước, chuyển biến về chất lẫn lượng nên có thể kỳ vọng vào làn sóng thứ tư khắc phục những khiếm khuyết của các làn sóng đầu tư trước đó.

Đánh giá dòng vốn FDI đầu tư trực tiếp vào Việt Nam sau hơn 30 năm, ông Jacques Morisset, chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank tại Việt Nam đã phát biểu trong một cuộc họp báo cuối năm 2019: “Khu vực FDI là một động lực tăng trưởng của Việt Nam nhưng FDI mới chỉ đem lại tác động trực tiếp là việc làm trực tiếp. Điều quan trọng là phải tạo sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.”

Chúng ta có thể kỳ vọng Việt Nam tận dụng cơ hội và hấp thụ làn sóng thứ tư tốt hơn ba lần trước đó để biến nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh nội sinh của kinh tế Việt Nam.

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 86, tháng 7.2020


Đọc thêm >>>
Dịch chuyển chuỗi cung ứng: Táo Mỹ trồng đất Việt
Bên trong cứ điểm sản xuất của Nike, Adidas
Dấu chân GE tại Việt Nam
Doanh nghiệp Mỹ muốn đầu tư vào hạ tầng hàng không Việt Nam
McKinsey: Liên kết kinh tế giữa các nước châu Á ngày càng thắt chặt
Việt Nam giữa thương chiến: Là điểm đến hay chỉ là nơi tránh bão?



"Di chuyển nhanh và phá vỡ các quy tắc. Nếu vẫn chưa phá vỡ cái gì, chứng tỏ bạn di chuyển chưa đủ nhanh.". ---- Mark Zuckerberg - Doanh nhân

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 88 tháng 9.2020

 Số 88 tháng 9.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - CÁ LỚN THEO SÓNG LỚN

    20 thương vụ M&A lớn nhất cho thấy khẩu vị và xu hướng sáp nhập của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

  • - HÀNH TRÌNH CỦA CJ

    CJ, tập đoàn Hàn Quốc tích cực hoạt động trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập tại Việt Nam.

  • - CỦNG CỐ CHIỀU SÂU

    Vinamilk thực hiện các thương vụ M&A để củng cố chiến lược phát triển chiều sâu cho sản phẩm.

  • RỄ SÂU BÁM CHẶT

    Sau 10 năm mua lại công ty phân phối, doanh thu ở Việt Nam của Daikin tăng lên 24 lần.

  • - MẢNH GHÉP CỦA REE

    Đầu tư vào năng lượng, REE trải qua các thử thách trước khi ghi nhận kết quả.

  • - ỨNG BIẾN TRONG ĐẠI DỊCH

    Một số giải pháp giúp doanh nghiệp xoay trở trong ngắn hạn và khích lệ tinh thần xã hội.

  • - CHUNG MỘT CHIẾN TUYẾN

    Tốc độ triển khai nhanh giúp Vingroup tham gia chuỗi cung ứng linh kiện y tế trên toàn cầu.

  • - DANH SÁCH NGƯỜI GIÀU NHẤT ẤN ĐỘ