MỘT SÁNG TRUNG TUẦN THÁNG 9, giữa giờ làm việc điện thoại của  Nguyễn Thị Phương Yến xuất hiện thông báo cô vừa nhận được  1.000 đồng từ một người bạn trong trò chơi “Học viện MoMo”. 24 tuổi, làm việc tại một công ty truyền thông ở TP.HCM, Phương Yến cài đặt khá nhiều ứng dụng trên điện thoại, một trong số đó có ví điện tử MoMo dùng để thanh toán các ứng dụng trên Apple Store và một số dịch vụ giải trí.

Bị cuốn vào trò chơi, tần suất mở ứng dụng của Phương Yến tăng lên trung bình 2 – 3 lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30 phút. Phút giải lao cô lang thang nghiêng ngó qua những dịch vụ tích hợp trên ứng dụng như đếm bước chân đi bộ, nuôi heo đất...

Phương Yến là một trong sáu triệu người tham gia trò chơi của MoMo sau hai tuần tổ chức. Theo công bố, trong thời gian này diễn ra 100 triệu trận đấu, 60 triệu thẻ quà tặng được gửi đến người chơi. Điều gì thực sự thôi thúc một công ty công nghệ tài chính (fintech) trong nước như MoMo làm công việc của một nhà phát triển trò chơi?

“Các chương trình tương tác này nằm trong chiến lược quan trọng để MoMo hướng tới siêu ứng dụng đầu tiên của Việt Nam,” ông Nguyễn Mạnh Tường, phó chủ tịch điều hành công ty cổ phần Dịch vụ Di động Trực tuyến (M_Service), đơn vị chủ quản ví điện tử MoMo nói với Forbes Việt Nam trong cuộc phỏng vấn riêng tại trụ sở công ty.

Nhà đồng sáng lập MoMo cũng thừa nhận, đó là cách họ gia tăng kết nối và tương tác với người dùng, qua đó tăng cơ hội giới thiệu với khách hàng các dịch vụ tích hợp có sẵn trên MoMo. Sau hành trình 10 năm, có những lần tưởng như gục ngã vì thất bại, MoMo nhìn thấy mục tiêu kép ở phía trước để phấn đấu: trở thành siêu ứng dụng và cán mốc 50 triệu người dùng.

Tại buổi họp báo đầu tháng 9.2020, ông Nguyễn Bá Diệp, phó chủ tịch, đồng sáng lập ví MoMo thông báo, ứng dụng cán mốc 20 triệu người đăng ký. Sau năm năm, ứng dụng MoMo “phiên bản smartphone” ra mắt, số lượng khách hàng đã tăng gấp 40 lần, tổng giá trị thanh toán qua nền tảng tăng gấp hàng chục lần.

Năm 2019, theo số liệu từ Napas – công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam, MoMo chiếm 68% thị phần giá trị giao dịch thanh toán qua điện thoại. Theo khảo sát người dùng của công ty nghiên cứu thị trường Asia Plus công bố đầu năm 2020, MoMo là ví điện tử có mức độ người dùng nhận biết cao nhất trong số hơn 30 ví điện tử tại Việt Nam.

Theo dữ liệu độc lập của Forbes Việt Nam thu thập được, năm năm trở lại đây doanh thu MoMo tăng gần năm lần nhưng công ty vẫn chưa có lãi. Các con số công bố của MoMo cho thấy, họ không chỉ tăng trưởng nhanh mà có độ phủ khá rộng.

MoMo cho biết, họ có 30 ngàn đối tác trong nhiều lĩnh vực: tài chính tiêu dùng, bảo hiểm, bán lẻ, mua sắm, thương mại điện tử, ăn uống, vui chơi, giải trí, cho đến các thanh toán dịch vụ công, y tế, giáo dục… đa dạng hơn bất cứ một ví điện tử nào có trên thị trường.

Nhờ đó, MoMo có hơn 120 ngàn điểm chấp nhận thanh toán, khách hàng có thể quẹt mã MoMo khi mua cà phê Highlands, trà sữa Gong Cha, đến nhà hàng lẩu Kichi Kichi, món nướng Gogi House hay thanh toán tại siêu thị Co.opmart, chuỗi cửa hàng tiện lợi như Seven Eleven, Family Mart... Sự năng động của ví điện tử này còn thể hiện qua việc bắt tay kết nối với những tên tuổi quốc tế: MoMo là một trong hai ví điện tử đầu tiên được kết nối vào Apple Store, một trong ba ví điện tử tại Việt Nam có thể thanh toán các dịch vụ Google Play, ví điện tử đầu tiên tại Đông Nam Á kết nối với ứng dụng gọi xe Uber (trước khi rút đi).

Ai là người dùng ví điện tử khi 80% giao dịch thanh toán trong nền kinh tế Việt Nam bằng tiền mặt? Cơ cấu người dùng được MoMo phác thảo: 60% người dùng của họ có  tuổi 20–30, 25% trong độ tuổi 30–45, 15% thuộc nhóm tuổi còn lại. MoMo cho biết trung bình mỗi người dùng có 20–30 giao dịch mỗi tháng, giá trị chi tiêu phổ biến 2–3 triệu đồng/ tháng.

Các dịch vụ được sử dụng nhiều nhất tại ứng dụng này gồm mua vé máy bay, xe lửa, thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại, thanh toán mua sắm tại các kênh mua sắm hiện đại... (MoMo từ chối chia sẻ nhiều thông tin quan trọng khác: doanh thu, số người dùng có giao dịch thường xuyên mỗi tháng, tỉ lệ tài khoản liên kết ngân hàng…). Không thu phí hầu hết các dịch vụ, phần lớn doanh thu của MoMo từ phí thu hộ các đối tác dịch vụ hoặc chiết khấu phân phối.

Là đơn vị trung gian thanh toán dịch vụ công, viện phí, hóa đơn điện nước, Internet, mua sắm trực tuyến… MoMo được hưởng mức phí thu hộ khiêm tốn. Khoản doanh thu thứ hai đến từ vai trò kênh phân phối bán hàng cho các đối tác như bán vé xem phim, vé máy bay, tàu hỏa, bảo hiểm… Ở vai trò này, MoMo nhận giá trị gia tăng cao hơn mức phí thu hộ.

MoMo từng đề nghị bán bảo hiểm xe cơ giới cho một công ty bảo hiểm lớn trong sự nghi ngờ: “Các ông cứ thử xem, chắc sẽ bán được khoảng 500 hợp đồng, chúng tôi sẽ cử hai nhân viên hỗ trợ.” Kết quả hai ngày đầu tiên đưa sản phẩm lên ứng dụng, MoMo bán được 10 ngàn hợp đồng.

“Xu hướng thế giới ngày càng muốn giảm khâu trung gian, tiết kiệm chi phí. MoMo chỉ làm hai chuyện hoặc là đi sát với khách hàng, hoặc đi sát với ‘phía trên’ – người tạo ra sản phẩm, chỉ làm trung gian thì rất rủi ro. Nếu đứng ở giữa mà không tạo ra được giá trị gia tăng lớn thì lâu dài rất khó tồn tại,” ông Nguyễn Mạnh Tường nêu quan điểm. 

THEO THỐNG KÊ, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC đã cấp phép cho 37 đơn vị trung gian thanh toán trong đó cớ hơn 30 ví điện tử hoạt động tại Việt Nam, dù thực tế khoảng 10 ví được người dùng nhớ tên. Nếu phân chia theo xuất phát điểm, mục đích sử dụng và đối tượng người dùng thì những tay chơi năng động nhất nằm trong hai nhóm khác nhau.

Nhóm thứ nhất, ví điện tử gắn với một hệ sinh thái có sẵn, đại diện tiêu biểu như GrabPay by Moca thuộc hệ sinh thái Grab, VinID gắn với hệ sinh thái Vingroup-Masan, ZaloPay thuộc VNG, ViettelPay thuộc Viettel. Những ứng dụng này có lợi thế với tập khách hàng có sẵn nhưng hoạt động bị ràng buộc vào chính hệ sinh thái đó nên gặp thách thức không nhỏ nếu muốn mở rộng thị trường.

Nhóm thứ hai là nền tảng phát triển độc lập, tự thu hút khách hàng, đại diện tiêu biểu có thể kể đến như MoMo, Payoo, VNPay. Điểm yếu của họ cũng chính là điểm mạnh. Không có hệ sinh thái, nhóm thứ hai phải năng động tìm kiếm hướng đi riêng và những tập khách hàng khác nhau.

Ba cái tên nổi bật trên thị trường hiện nay là MoMo, Payoo và GrabPay by Moca ước tính chiếm 90% thị phần về giá trị giao dịch của người dùng. Payoo và GrabPay by Moca có nhiều điểm tương đồng: có yếu tố nước ngoài, sở hữu tập khách hàng lớn, tính năng ứng dụng đã được thử nghiệm ở nhiều thị trường trước khi mang đến Việt Nam.


Đường đến siêu ứng dụng của MoMo - ảnh 1

Xuất hiện sớm và đáng chú ý đầu tiên phải kể đến Payoo. Năm 2011, VietUnion, đơn vị sở hữu ví Payoo nhận đầu tư từ NTT Data (Nhật Bản) làm nóng thị trường thanh toán di động tại Việt Nam khi ấy vốn còn rất sơ khai. Sau khi có đối tác hùng mạnh, chiến lược của Payoo thể hiện rõ trong tham vọng tạo ra nền tảng thanh toán mở, chấp nhận các phương thức thanh toán khác nhau từ thẻ, ví điện tử, mã quét của các ngân hàng.

Các dịch vụ trung gian thanh toán của Payoo tập trung vào các nhà cung ứng dịch vụ điện, nước, cho vay tiêu dùng, thu phí bảo hiểm… Điều này lý giải vì sao lượng tiền xử lý qua nền tảng của Payoo rất lớn, có thể lên đến 100.000 tỉ đồng mỗi năm.

Trái với Payoo, GrabPay by Moca hình thành từ thương vụ Grab mua ví điện tử nội địa Moca. Phục vụ cho hệ sinh thái Grab, GrabPay by Moca có quy mô hoạt động lớn. Ứng dụng trong lĩnh vực gọi xe khu vực Đông Nam Á gia nhập thị trường Việt Nam năm 2014, hai năm gần đây liên tục bổ sung các tính năng mới như gọi đồ ăn, giao hàng, đi chợ, thanh toán hóa đơn và trở thành thế lực đáng gờm trên thị trường.

Nhờ gắn với nhu cầu đi lại có tần suất sử dụng cao, sau sáu năm có mặt ở Việt Nam Grab tuyên bố tiếp cận hơn ¼ dân số Việt Nam, tức khoảng 25 triệu khách hàng. Vậy MoMo, fintech nội địa liệu có đủ sức cạnh tranh? Sáng tạo, linh hoạt, am hiểu tâm lý người dùng địa phương là các thế mạnh cạnh tranh của MoMo theo quan điểm của hai nhà sáng lập.

“Nhìn một cách tổng thể không có hệ sinh thái đằng sau đặt MoMo đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức,” ông Nguyễn Bá Diệp nói. Cơ hội đến từ khả năng kết nối giữa MoMo với nhiều đối tác khác nhau, đa dạng dịch vụ nhưng không xung đột lợi ích.

Chẳng hạn, MoMo có tính năng nạp tiền thanh toán trước cho tài xế Vinasun, Grab, Gojek – các đối thủ cạnh tranh trực tiếp khó có thể xuất hiện trên ứng dụng thanh toán của Grab. Cơ hội đến từ phát triển những tính năng am hiểu người dùng địa phương như nuôi heo đất, đếm bước chân đi bộ, thu hút đông đảo người dùng trẻ.

“Mỗi tháng ứng dụng thu hút hàng triệu người dùng tham gia các hoạt động nuôi heo đất, lắc heo vàng, đi bộ,” ông Tường cho hay và lập luận: “Càng vào một chỗ, người ta sẽ quen dần và muốn thử thêm những cái khác.”

Cơ hội cũng đến từ định nghĩa MoMo là ví điện tử “made in Vietnam”, dành cho người Việt Nam với tiêu chí sử dụng “nhanh chóng, tiện lợi và an toàn.” Và họ không nói suông! MoMo liên tục cải tiến trải nghiệm của khách hàng. Chẳng hạn tính năng thanh toán QR Code, trong khi phần lớn thị trường sử dụng QR Code tĩnh, MoMo triển khai QR Code động để giảm quy trình thanh toán từ năm bước xuống còn một lần chạm.

Tuy nhiên về công nghệ, điều khó nhất là làm sao tích hợp được vào tất cả các hệ thống của đối tác. Thách thức tưởng như nhỏ mà lại ngốn của đội ngũ kỹ thuật MoMo thời gian, chi phí và công sức. Đã vậy, họ còn phụ thuộc nhiều vào ý chí quyết tâm của đối tác để cùng tạo ra sự thuận lợi.

Ông Tường dẫn chứng, có những đối tác trụ sở tại nước ngoài, “anh em MoMo mất rất nhiều thời gian bay sang làm việc với họ.” Về phương diện bảo mật, MoMo có nhiều cách để bảo vệ khách hàng nội địa. Chẳng hạn, mã xác thực OTP của MoMo là một cánh cổng điện tử bảo vệ người dùng.

Ban đầu MoMo gửi mã theo hình thức SMS tới số điện thoại đăng ký, để bảo đảm sự nhanh chóng, tiện lợi, sáu số bí mật đặt lên dòng tin nhắn đầu tiên, rồi mới tới dòng cảnh báo bảo mật: “Bạn không được cung cấp mã số OTP cho bất cứ ai...”

Nhiều khách hàng bỏ qua cảnh báo quan trọng này và bị kẻ xấu lừa cung cấp mã OTP lấy tiền. MoMo đảo ngược, chuyển cảnh báo lên dòng tin nhắn đầu tiên, mã OTP xuống dưới. Một số khách hàng vẫn bỏ qua cảnh báo và chuyện lừa đảo vẫn xảy ra. MoMo đành hi sinh một phần tiêu chí “tiện lợi”, để có sự an toàn: cung cấp mã OTP bằng cuộc gọi thoại (Voice OTP) nhằm chắc chắn thời điểm cung cấp mã OTP, người đăng nhập và người dùng số điện thoại đăng ký ở cùng một nơi!

MoMo còn xây dựng nhiều lớp để bảo vệ người dùng. Khi đăng nhập tài khoản MoMo bằng thiết bị di dộng mới, hệ thống tự động nhận biết, ngay lập tức hạn mức giao dịch giảm từ 20 triệu xuống còn hai triệu trong 24 giờ tiếp theo để bảo vệ khách hàng (trong trường hợp khách hàng mất hoặc bị chiếm dụng điện thoại).

MoMo cũng có nhiều lớp công nghệ ghi nhận hành vi khác thường của khách hàng với lịch sử người dùng trước đó và tự động đưa các cảnh báo, trong trường hợp nghi vấn có thể tự động hạ hạn mức giao dịch bảo vệ chủ ý (MoMo đề nghị không miêu tả chi tiết để kẻ gian lợi dụng).

“Ở MoMo không bao giờ mất tiền vì tiền do ngân hàng quản lý. Rủi ro lớn nhất là khách hàng bị lừa, đưa mật khẩu OTP cho kẻ gian,” ông Tường khẳng định. Sắp tới công ty này dự kiến áp dụng công nghệ xác thực danh tính khách hàng như nhận diện khuôn mặt. MoMo phiên bản đầu tiên ra mắt cách đây 10 năm nhưng M_Service, đơn vị chủ quản thành lập năm 2007.

Ban đầu, M_Service là một dịch vụ ứng tiền linh hoạt (Airtime credit) cho bảy nhà mạng di động trên SIM đa năng, quản lý hệ thống phân phối hơn 100 ngàn đại lý bán lẻ trên toàn quốc. Ông Nguyễn Bá Diệp, quản lý của VNPT, người có bằng MBA quản trị kinh doanh đại học Curtin (Úc) là một trong những hạt nhân dự án.

Vào năm 2010, thương hiệu MoMo, viết tắt cụm từ “Mobile Money” ra đời với bốn nhà đồng sáng lập, trong đó chỉ còn hai người gắn bó với MoMo là Nguyễn Bá Diệp và Nguyễn Mạnh Tường. Cả hai có những điểm tương đồng: cùng có vẻ bề ngoài trẻ trung, lối suy nghĩ phóng khoáng, tích cực, phương pháp tiếp cận kinh doanh thẳng thắn của dân công nghệ.

Nếu Nguyễn Bá Diệp, 47 tuổi, học đại học Bách khoa TP.HCM thì Nguyễn Mạnh Tường, 41 tuổi học đại học Bách khoa Hà Nội. Với những người lần đầu tiếp xúc, ấn tượng về Nguyễn Mạnh Tường là người khá khiêm nhường nhưng bên trong nhiệt huyết về công việc.

Tại MoMo, ông đóng vai trò linh hồn chiến lược, phát triển kinh doanh và sản phẩm. Trái lại, ông Nguyễn Bá Diệp dễ gần, quản giao, xuất hiện nhiều bên ngoài giống như bộ mặt đại diện cho MoMo giải quyết các vấn đề pháp lý và phát triển kinh doanh.

Sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại đại học Buffalo và quản trị kinh doanh đại học Chicago Booth School of Business ông Tường đầu quân cho Cisco Systems (Mỹ) với sự đãi ngộ hạng A. Trước đó, ông Tường đã có trải nghiệm thực tế ở những thị trường nơi mà thanh toán không tiền mặt phổ biến, từ đó bắt đầu manh nha ý tưởng khởi nghiệp trong lĩnh công nghệ di động.

Gặp nhau, Nguyễn Bá Diệp thuyết phục Nguyễn Mạnh Tường, đại để: “Nếu ông làm ở Mỹ thì chỉ làm giàu được cho cá nhân, nhưng nếu về Việt Nam thì có thể giúp được hàng triệu người tiếp cận với sản phẩm tài chính một cách bình đẳng nhờ sức mạnh công nghệ.”

CHẶNG ĐƯỜNG 10 NĂM GẮN BÓ có những thất bại không nằm trong tưởng tượng ban đầu của bộ đôi này. Ngày đầu, MoMo là ứng dụng tích hợp lên thẻ sim điện thoại, học hỏi từ M_Pesa, mô hình rất thành công tại Kenya.

Tháng 11.2010, MoMo làm lễ ra mắt tại khách sạn Melia Hà Nội. Khi Tường lên sân khấu trình diễn, giới thiệu các tính năng thực tế trước hàng trăm người tham dự thì Nguyễn Bá Diệp lặng lẽ bỏ ra hành lang vì căng thẳng. Sau đó ông hỏi người cộng sự: “Có chạy được không?” Thấy bạn gật đầu, Nguyễn Bá Diệp thở hắt ra nhẹ nhõm. Ứng dụng khi ấy được tích hợp trên thẻ sim 64Kb dung lượng tối đa bấy giờ là 128Kb.

Ra mắt không lâu, bộ đôi nhận ra rằng mô hình này khó có thể áp dụng thành công ở Việt Nam vì dung lượng quá nhỏ, tính năng đơn điệu. Đặc biệt việc ghép ứng dụng trên thẻ sim sản xuất tại nước ngoài khiến mỗi lần muốn thay đổi nhỏ cũng phải mất một năm trời.

Không chùn bước họ chuyển sang kết hợp với Vietcombank cung cấp dịch vụ chuyển tiền tại các điểm nạp rút. Mô hình này tương tự như Western Union… chỉ khác mục tiêu khiêm tốn nhắm đến giới lao động di cư ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Năm 2013, ông Tường, người có hai bằng MBA của các trường đại học danh giá, vài năm trước đó đầu quân cho các tập đoàn đa quốc gia, đứng trước cổng nhà máy thủy sản Minh Phú (Cà Mau), tay cầm tờ rơi phát cho công nhân, phía sau là chiếc loa di động phát lời rao: “Dịch vụ chuyển tiền MoMo” như nhóm “sơn đông mãi võ” thứ thiệt. Lúc này dịch vụ có người dùng nhưng MoMo lại đối mặt với một vấn đề nan giải: mô hình gần như không thể mở rộng.

Khoảng năm 2015, ứng dụng MoMo mới thực sự ra đời dựa trên các điều kiện chín muồi: Internet phát triển, thiết bị cầm tay thông minh với giá bán ngày càng phù hợp, thanh toán không dùng tiền mặt trở thành thói quen, sự sẵn sàng từ phía người dùng và cả các ngân hàng khi hành lang pháp lý khơi thông. Lúc này, bằng tất cả nguồn lực, vốn liếng còn lại, đội ngũ MoMo đặt cược vào “trận cuối cùng.”

Theo cả hai, trong các lần thay đổi, chuyển định hướng phát triển hệ sinh thái trên smartphone có ý nghĩa quyết định nhất. “Nếu thay đổi mà không thành công thì tỉ lệ hi sinh rất cao, đặc biệt khi sức lực và niềm tin vơi đi khá nhiều sau những lần thất bại trước đó,” ông Tường nói.

Một trong các khó khăn lớn nhất của những người mở đường là vượt qua các định kiến và tư duy lối mòn. MoMo gặp nhiều thách thức khi làm việc với đối tác, trong đó khó tính nhất là các ngân hàng. Theo ông Tường, hợp tác này là mấu chốt bởi vì làm “tech” không có “fin” không được, và họ phải thuyết phục ngân hàng chia sẻ tầm nhìn. Những ngân hàng đầu tiên MoMo mất 2-3 năm để có thể kết nối. Nhờ sự mở đường này các ví điện tử nội địa sau đó được thuận lợi hơn.

“Mỗi ngân hàng đều có tiêu chuẩn bảo mật riêng. Việc đầu tiên họ muốn biết MoMo có thể mang lại lợi ích gì cho họ. Ngân hàng có nhiều quan điểm khác nhau về chuyện hợp tác với fintech, chỗ nào hợp tác, chỗ nào cạnh tranh, cần thảo luận nội bộ và mất thời gian. Sau khi thảo luận, họ thử nghiệm rồi mới quyết định, điều này rất cần thời gian, kiên trì từ cả hai bên. Nhưng nhìn chung các ngân hàng đang ngày càng cởi mở hơn,” ông Tường kể.

Giải quyết câu chuyện đầu vào, MoMo bắt đầu mở rộng ra các đối tác dịch vụ. Ban đầu họ chọn những dịch vụ thiết yếu nhất gắn với nhu cầu của người dùng như nạp thẻ điện thoại, thanh toán hóa đơn, rồi dần dần mở rộng ra hợp tác với bệnh viện, trường học, các lĩnh vực ăn uống, vui chơi, giải trí… Ở thị trường quốc tế, MoMo hợp tác với Google, sau đó là Apple. “Nếu ngân hàng kiểm soát một thì Apple kiểm soát thương hiệu ‘chặt’ gấp 10 lần,” ông Tường nói.

Năm 2017, MoMo kết nối thành công với Uber với lập luận: Hầu hết người dùng Việt Nam không có thẻ tín dụng, trải nghiệm người dùng của Uber là “khách hàng được tài xế đón như công một ông chủ,” nếu các ông cho thanh toán tiền mặt thì còn gì là ADN của Uber về trải nghiệm khách hàng. Uber đồng ý, MoMo kết nối thành phương tiện thanh toán, không may ngay sau đó Uber rút hoạt động ra khỏi khu vực. “Công nghệ không phải một điểm mạnh của MoMo,” một đối thủ cạnh tranh đánh giá.

Nhưng bộ đôi có cách suy nghĩ tích cực. Hiện tại, MoMo tự phát triển nền tảng công nghệ riêng. Ông Tường kể, có lúc nội bộ tranh luận gay gắt giữa hai phương án tự xây dựng nền tảng công nghệ lõi hay đi mua. Đội ngũ tự tin có thể tự xây dựng nhưng rủi ro sẽ rất lớn. Bộ đôi phải tìm cách thuyết phục nhà đầu tư. Thực tế chứng minh quyết định lúc đấy là đúng.

“Chính sự chủ động đó mới tạo ra được những sáng tạo riêng cho MoMo. Và nếu chọn lại đi con đường kia, chắc MoMo đã hi sinh từ lâu,” ông Tường khẳng định. MoMo xác định, họ là công ty công nghệ, công nghệ sáng tạo là ADN của đội ngũ, là trí tuệ hoàn toàn của các kỹ sư người Việt, làm ra sản phẩm cho người Việt.

“Các công ty ví điện tử đang có vị thế tốt để trở thành một siêu ứng dụng,” ông Mai Hoài An, phó chủ tịch liên minh Các doanh nghiệp Công nghệ số Việt Nam (VNITO) chia sẻ với Forbes Việt Nam . Theo ông An, một siêu ứng dụng phải tích hợp nhiều ứng dụng khác nhau trong cùng một nền tảng nhưng xoay quanh hạt nhân là nền tảng thanh toán.

Tuy nhiên, để trở thành siêu ứng dụng, tệp khách hàng là điểm mấu chốt, càng nhiều khách hàng, ứng dụng đó càng có cơ hội phát triển, mở ra thêm nhiều dịch vụ. “So với công ty trong nước, tập đoàn nước ngoài có độ nhạy cảm công nghệ cao, tốc độ sáng tạo và cập nhật nhanh. Nhưng đồng thời mức độ tập trung cho một thị trường của họ không bằng công ty nội địa,” ông nhận xét.

“Ngay từ đầu, MoMo đã định vị là siêu ứng dụng, nhưng thay vì nói, chúng tôi tập trung làm, nói ra phải làm cho tới,” ông Tường cho hay. Theo nhà đồng sáng lập, MoMo sẽ là một nền tảng công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp, đối tác tiếp cận khách hàng mà trước đây họ chưa thể tiếp cận. Mỗi đối tác có một tập khách hàng riêng, họ sẽ hiểu tập người dùng để đưa cho họ những giải pháp tối ưu.

Tháng 6 vừa rồi, MoMo thử nghiệm hợp tác với Saigon Co.op triển khai bán vải (quả), ngày đầu, mỗi giờ được một tấn. Đi sớm, vẫn “đốt tiền”, trong giai đoạn giáo dục thị trường và chinh phục người dùng, bao giờ MoMo có lãi? Ông Diệp tự nhận họ là những người khởi nghiệp mộng mơ. “Dù trong hoàn cảnh nào, chúng tôi chưa bao giờ từ bỏ ước mơ. Chúng tôi luôn nghĩ làm cách nào để đi tiếp. MoMo đã đạt đến 20 triệu người dùng nhưng mục tiêu kế tiếp là gì?’.

Đó là câu hỏi không bao giờ ngừng. Với MoMo, tôi chưa bao giờ nghi ngờ về chuyện thành công, vì nếu khởi nghiệp mà hoài nghi, không bao giờ làm được,” ông nói. Còn ông Tường tự tin: “Trong năm tới, chúng tôi sẽ mở rộng quy mô hàng chục ngàn dịch vụ ngay trên ứng dụng. Nhưng MoMo vẫn giữ dịch vụ cốt lõi là ứng dụng tài chính trung gian. 

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 89, tháng 10.2020


 Đọc thêm >>>
Payoo: Đàn ong xây tổ
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển của fintech
Thách thức chuyển đổi số ngân hàng ở Việt Nam
Khung pháp lý phát triển công nghệ tài chính
Ngân hàng số - từ đổi mới đến cách mạng
Ngân hàng trung ương “in tiền” và bong bóng tài sản