Các doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy để thích nghi với bối cảnh bình thường mới, linh hoạt trong việc tiếp cận và tận dụng cơ hội, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Đón “đại bàng” về làm tổ - ảnh 1

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. 

SỰ DỊCH CHUYỂN CHUỖI CUNG ỨNG và tái cơ cấu đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia đã diễn ra từ nhiều năm nay và đặc biệt trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm gần đây. Sau thương chiến Mỹ - Trung leo thang, đại dịch Covid-19 bùng phát thúc đẩy nhanh hơn quá trình dịch chuyển này, hình thành xu hướng rút vốn đầu tư quay trở về trong nước, hoặc mở rộng đầu tư sang quốc gia khác có lợi thế cạnh tranh, phù hợp với xu hướng phát triển mới về phân công giá trị chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Trong tương quan so sánh với khu vực, Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh riêng nổi bật, có thể kể đến:

(1) Tình hình chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm;

(2) Chi phí và ưu đãi đầu tư cạnh tranh so với các nước trong khu vực;

(3) Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc chủ động tham gia và ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, điển hình như CPTPP, EVFTA, EVIPA;

(4) Nguồn lao động dồi dào, trẻ, năng động, có kiến thức với cơ cấu dân số vàng;

(5) Thị trường tiềm năng với dân số tiệm cận 100 triệu người, quy mô dân số đứng thứ 15 toàn cầu, tầng lớp trung lưu đang ngày càng tăng.

(6) Việt Nam ở vị trí thuận lợi, nằm ở trung tâm khu vực châu Á, kết nối giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế uy tín, môi trường đầu tư và kinh doanh Việt Nam ngày càng có những cải thiện mạnh mẽ và được đánh giá cao. Tạp chí US News & World Report xếp Việt Nam đứng thứ tám trong số 20 nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018. Tháng 10.2019, ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam ở 70/190 quốc gia về chỉ số Môi trường kinh doanh thuận lợi.

Theo diễn đàn Kinh tế thế giới, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2019 xếp thứ 67/141 quốc gia, tăng 10 bậc so với năm 2018. Ngay khi đại dịch Covid-19 bùng phát, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng với sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân, toàn quân, công tác phòng chống dịch đã đạt kết quả tốt.

Đồng thời, Chính phủ Việt Nam cũng vạch ra những chính sách kịp thời để từng bước hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19, duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, các hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội sớm được khôi phục, tình hình kinh tế – xã hội được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư an toàn và hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Ngày 8.6.2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua hiệp định EVFTA và hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA). Hai hiệp định này cùng với hiệp định CPTPP, có hiệu lực từ tháng 1.2019 đã mở ra không gian hợp tác rộng lớn, hình thành nên “tuyến đường cao tốc” hiện đại kết nối Việt Nam với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Bởi lẽ khi đầu tư tại Việt Nam, sản xuất và xuất khẩu sang các nước thành viên của các hiệp định nêu trên sẽ được hưởng các ưu đãi đặc biệt về thuế quan.

Môi trường pháp lý kinh doanh tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện. Tại kỳ họp lần thứ 9 Quốc hội khóa XIV trong tháng 6.2020, một loạt các bộ luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh như: luật Đầu tư sửa đổi, luật Doanh nghiệp sửa đổi, luật Đầu tư theo phương thức hợp tác công tư (PPP) được thông qua.

Đây là hành lang pháp lý rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam những năm tới. Trong đó, luật Đầu tư sửa đổi đã bổ sung các quy định theo hướng rõ ràng, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, bổ sung quy định ưu đãi đặc biệt để đón các dự án đầu tư có chất lượng, định hướng vào thu hút các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, có sự lan tỏa, cam kết cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, gắn với hợp tác đào tạo nhân lực; có giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Chiến lược của Việt Nam về đầu tư nước ngoài trong thời gian tới là thực hiện phương châm “hợp tác” theo nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”. Trong đó, về chủ trương Việt Nam sẽ ưu tiên thu hút có chọn lọc dòng vốn có chất lượng, hiệu quả, phù hợp với nhu cầu hợp tác đầu tư của Việt Nam, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp.

Thứ hai, lựa chọn các dự án có chất lượng, công nghệ tiên tiến; nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, kinh tế số; có sự lan tỏa, cam kết cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, gắn với việc hợp tác đào tạo nhân lực; có giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, thân thiện với môi trường. Không tiếp nhận các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và thâm dụng tài nguyên.

Thứ ba, đa dạng hóa, đa phương hóa từ nhiều thị trường và đối tác chiến lược, chủ động tiếp cận, thu hút các tập đoàn lớn, doanh nghiệp tại các nước phát triển (G7, G8, OECD...) tham gia hình thành và phát triển cụm liên kết ngành theo từng chuỗi giá trị. Với sự chuẩn bị tích cực nêu trên, cùng với nỗ lực tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong thời gian tới, Việt Nam sẽ chủ động tiếp cận và sẵn sàng hỗ trợ cho các tập đoàn lớn, các dự án đầu tư nước ngoài phù hợp với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài nhằm triển khai các hoạt động đầu tư kinh doanh thuận lợi và có hiệu quả tại Việt Nam.

Chính vì vậy, ngay lúc này cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần phải có những hành động nhanh hơn và mạnh hơn, chớp lấy thời cơ “vàng” để hiện thực hóa khát vọng vươn ra biển lớn. Muốn được như vậy, theo tôi, cần chú ý những điều dưới đây:

Thứ nhất, điều kiện tiên quyết chính là phải có tư duy mới, tầm nhìn mới. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi tư duy để thích nghi với bối cảnh bình thường mới, tích cực tìm hiểu, nắm bắt thông tin và linh hoạt trong việc tiếp cận, tận dụng cơ hội, chuẩn bị tâm thế để sẵn sàng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; sáng tạo và nhạy bén trong kinh doanh; có kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp, xây dựng năng lực, chiến lược và tầm nhìn dài hạn với hướng đi mạnh dạn, đột phá, sáng tạo và hiện đại.

Thứ hai, cần có những hành động mạnh mẽ và táo bạo. Cụ thể, hiện nay, xu hướng mua bán sáp nhập doanh nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ. Đây là thách thức và cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể tính tới những cơ hội mua các thương hiệu ngoại với giá hợp lý.

Trong khoảng 10 năm gần đây, có nhiều thương vụ doanh nghiệp Việt mua lại các công ty nước ngoài như Masan Group, Vingroup, FPT, Vinamilk… Việc mua lại thương hiệu ngoại là một chiến lược giúp doanh nghiệp trong nước có thể tiếp nhận, làm chủ công nghệ, mô hình quản trị tiên tiến, đặc biệt trong các ngành có hàm lượng chất xám cao; tạo đà tăng tốc lên quy mô tầm khu vực và thế giới một cách nhanh hơn.

Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ mới. Đây là xu hướng tất yếu, con đường hiệu quả, bền vững nhất để giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển bứt phá trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ.

Chỉ khi doanh nghiệp có đủ năng lực đáp ứng được các điều kiện, tiêu chuẩn của đối tác, của thị trường thì mới có thể tham gia được vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị; từ đó, mới có thể chủ động tiến lên những “nấc thang” có giá trị gia tăng cao hơn, hàm lượng chất xám nhiều hơn trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, một yếu tố khác cũng vô cùng quan trọng đó chính là liên kết sức mạnh. Đây chính là vũ khí lớn, đã giúp dân tộc Việt Nam làm nên nhiều kỳ tích trong lịch sử giành độc lập, bảo vệ và phát triển đất nước thời gian qua. Với các doanh nghiệp lớn cần xác định vai trò và trách nhiệm tiên phong trong việc phát triển các sản phẩm chủ lực, trở thành đầu mối dẫn dắt, tạo sự lan tỏa và lôi kéo các doanh nghiệp khác trong nước cùng phát triển; kết nối với các viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo để đưa ra thị trường những sản phẩm mới, có hàm lượng chất xám nhiều hơn, chất lượng tốt hơn, sức cạnh tranh cao hơn, thiết lập vị thế mới của thương hiệu Việt trên thị trường trong và ngoài nước.

Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tiếp tục phát huy tính bền bỉ, dẻo dai, sức sáng tạo và linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong và ngoài nước.

Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cần xác định là một thành phần không thể tách rời của nền kinh tế Việt Nam, xây dựng mối quan hệ tương hỗ với các thành phần doanh nghiệp khác trong nước với phương châm cùng lớn mạnh, cùng phát triển; tăng cường sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước, thực hiện chuyển giao kiến thức, công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam để tạo dựng chuỗi giá trị hiệu quả, bền vững.

Hiện nay, bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiếp tục chủ động nghiên cứu, đề xuất các kịch bản tăng trưởng kinh tế và các giải pháp, chính sách phát triển trong ngắn hạn và dài hạn, trong đó có các giải pháp cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tư, liên doanh, liên kết, mua bán sáp nhập trong những ngành có hàm lượng chất xám, công nghệ cao; đẩy mạnh thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tái cơ cấu ngành nghề, sản phẩm, đổi mới sáng tạo để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị các ngành có hàm lượng chất xám cao.

Tôi luôn đánh giá rất cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đoàn kết, tương thân, tương ái và nỗ lực vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp thời gian qua. Hiện nay, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới, vận hội mới của quốc gia, dân tộc, tôi rất mong cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục khơi dậy, phát huy tinh thần và ý chí dân tộc, tận dụng cơ hội “vàng” hiện nay để không chỉ tự lớn mạnh, nâng tầm doanh nghiệp mà còn chung sức, nỗ lực cùng Chính phủ sớm hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam thành một đất nước hùng cường.

(*) Ông Nguyễn Chí Dũng là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(**) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 86, tháng 7.2020 


Ranh giới giữa khủng hoảng và suy thoái
Những thị trường lên cơn sốt
Viễn cảnh kinh tế hậu Covid-19 sẽ ra sao?
Giai đoạn mới, mô hình mới
Kinh tế Đông Á – Thái Bình Dương trước cú sốc đại dịch

"Những người dân khỏe mạnh là tài sản lớn nhất của bất cứ quốc gia nào". ---- Winston Churchill - Chính trị gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 87 tháng 8.2020

 Số 87 tháng 8.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - CÂU CHUYỆN DUY TÂN

    Sau 33 năm kinh doanh, Duy Tân thành doanh nghiệp nhựa dân dụng hàng đầu Việt Nam.

  • - THAM VỌNG MÀU HỒNG

    Con Cưng, xây dựng hệ thống hơn 4000 cửa hàng và tham vọng đưa doanh số tới cột mốc một tỉ đô la Mỹ.

  • - CHUỖI NHA KHOA MỚI

    Chuỗi nha khoa Kim, đẩy nhanh tốc độ mở chuỗi và xây dựng thương hiệu bằng số hóa sau mới 4 năm có mặt trên thị trường.

  • LÀM ĐẸP TÓC NAM

    30Shine - thương hiệu trẻ quy chuẩn hóa dịch vụ cắt tóc nam với sự giúp sức của công nghệ.

  • - NỀN TẢNG SỐ THAY ĐỔI XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

    Chia sẻ của các chuyên gia hàng đầu về chủ đề xây dựng thương hiệu trong kỷ nguyên số.

  • - SỰ KIỆN CÔNG NGHỆ KHÁM PHÁ KHO BÁU MIDAS

    Thông tin sự kiện Công nghệ Khám phá kho báu Midas do Forbes Việt Nam tổ chức ngày 16.7. Trình bày về các lĩnh vực công nghệ như 5G, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cũng như thách thức doanh nghiệp sử dụng dữ liệu tạo ra lợi thế cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ mới.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT HÀN QUỐC