Trạng thái bình thường mới (the new normal) sẽ dần được thiết lập tại tất cả nền kinh tế trên thế giới. Doanh nghiệp buộc phải thích nghi và chuẩn bị nhiều kịch bản để tiếp tục hoạt động sản xuất -  kinh doanh hậu dịch bệnh.

LTS: Trạng thái bình thường mới (the new normal) đang được thiết lập tại tất cả nền kinh tế trên thế giới, doanh nghiệp buộc phải thích nghi và chuẩn bị nhiều kịch bản để tiếp tục hoạt động sản xuất -  kinh doanh.

Forbes Việt Nam ghi nhận ý kiến chia sẻ của các chuyên gia: ông Nguyễn Đức Khương - thành viên tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ, phó giám đốc phụ trách nghiên cứu IPAG Business School (Paris); ông Phạm Thế Anh - Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế chính sách VEPR và ông Vũ Tú Thành - phó giám đốc điều hành khu vực Hội đồng Kinh tế Hoa Kỳ - ASEAN.


Doanh nghiệp cần thích nghi ra sao với tình trạng bình thường mới? - ảnh 1

Từ trái sang: Ông Nguyễn Đức Khương, ông Phạm Thế Anh và ông Vũ Tú Thành.

Forbes Việt Nam: So với các đợt khủng hoảng trước, mức độ tác động của đại dịch Covid-19 tới kinh tế toàn cầu và Việt Nam ra sao?

NGUYỄN ĐỨC KHƯƠNG: Tác động của đại dịch Covid-19 đến kinh tế toàn cầu phải nói là chưa có tiền lệ. Trước hết vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người và lực lượng lao động. Trong ba tháng trở lại đây, sinh hoạt người dân ở hầu hết các quốc gia bị ảnh hưởng bởi các giải pháp giãn cách, phong tỏa và hạn chế di chuyển. Tâm lý lo sợ trong dân chúng sẽ là rào cản lớn cho việc trở lại cuộc sống bình thường như trước.

Về kinh tế, hầu hết các hoạt động sản xuất – kinh doanh bị đình trệ. Đại dịch cũng làm suy giảm nghiêm trọng thương mại toàn cầu, phá vỡ các chuỗi cung ứng, sản xuất và giá trị đã được thiết lập kể từ đầu những năm 1990 dưới tác động của các chính sách tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thiệt hại từ Covid-19 khó dự đoán vì nó phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của các chính sách ứng phó ở các quốc gia, và thời gian để thế giới tìm ra được vaccine. Nếu kiểm soát tốt y tế và ngăn được sự bùng phát trở lại của dịch khi đưa hoạt động kinh tế trở lại “bình thường” thì khả năng tránh được hệ quả tiếp theo là khủng hoảng tài chính.

VŨ TÚ THÀNH: Nếu so sánh giữa ảnh hưởng của Covid-19 tới kinh tế Việt Nam với cuộc khủng hoảng gần nhất – khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 có thể thấy một điểm như sau: Đợt khủng hoảng tài chính cách đây 10 năm, sự sụp đổ diễn ra từ vấn đề mang tính hệ thống, cụ thể là hệ thống tài chính.

Sau khi có các gói kích cầu của chính phủ, do kiểm soát không tốt, dòng tiền chạy ra ngoài và gây ra khủng hoảng toàn hệ thống. Khi khủng hoảng tài chính qua đi, chúng ta lại phải đối phó với những hậu quả từ các giải pháp được triển khai để chống đỡ khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính 2008 – 2009 không những gây ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế, mà những “lời giải” đưa ra cũng tạo ra những vấn đề mới và cần thời gian giải quyết.

Forbes Việt Nam: Dịch bệnh làm thay đổi bức tranh kinh tế toàn cầu và tác động lên sự sống còn của doanh nghiệp, theo ông, trong dài hạn nền kinh tế sẽ có những thay đổi nào mà doanh nghiệp buộc phải thích nghi?

ÔNG VŨ TÚ THÀNH: Dịch bệnh Covid-19 lần này không liên quan tới lỗi hệ thống, sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào tốc độ kiểm soát dịch bệnh. Nếu kiểm soát tốt, nền kinh tế sẽ phục hồi và đi lên theo hình chữ V (từ đáy tăng trưởng trở lại rất nhanh). Kịch bản kém tích cực nếu dịch bệnh kéo dài, nền kinh tế sẽ tăng trưởng theo hình chữ U (xuống đáy – đi ngang – phục hồi và tăng trưởng trở lại).

Nhưng ở một góc độ khác, tôi tin vẫn có cơ sở để lạc quan. Vì trước nay Mỹ và châu Âu có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa rất lớn và đa số hàng hóa được nhập từ Trung Quốc. Dịch bệnh bùng nổ dẫn tới nhu cầu nhập khẩu giảm và xu hướng muốn tìm những đối tác cung ứng vừa tầm hơn, và điều này phù hợp với năng lực sản xuất của Việt Nam. Vấn đề là Việt Nam có thể đáp ứng được chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn của họ hay không, và sự đáp ứng có bền vững hay không.

Doanh nghiệp cần thích nghi ra sao với tình trạng bình thường mới? - ảnh 2

Trong khoảng hai tháng qua, tôi quan sát thấy những sản phẩm như vật tư, thiết bị y tế... của Việt Nam hoàn toàn có thể là một nhóm mặt hàng đủ sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Câu chuyện Vingroup sản xuất máy thở có lẽ là một ví dụ điển hình cho sự năng động của bộ phận kinh tế tư nhân, và đưa ra gợi ý để nhà điều hành chính sách có những thay đổi hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn.

NGUYỄN ĐỨC KHƯƠNG: Tùy lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mà sự thay đổi diễn ra nhanh hay chậm, sâu hay rộng, chẳng hạn chúng ta đã thấy một vài xu hướng lớn:

Làm việc từ xa qua các nền tảng trực tuyến và hệ thống nội bộ của doanh nghiệp sẽ trở thành “chuẩn mực mới”. Nhân viên Google và Facebook được thông báo họ sẽ tiếp tục làm việc ở nhà đến năm 2021. Nhiều tập đoàn lớn khác như Amazon và Capital One cũng yêu cầu tương tự đối với nhân viên cho đến tháng 9.2020. Đúc rút kinh nghiệm từ Covid-19, rất nhiều doanh nghiệp cũng sẽ đẩy mạnh xu thế này trong thời gian tới.

Kinh doanh gắn với trách nhiệm xã hội: Bắt nhịp sớm với xu thế thúc đẩy bền vững của doanh nghiệp (corporate sustainability) trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp thành lựa chọn ưu tiên của các nhà đầu tư. Xu hướng này tập trung vào tìm kiếm giá trị dài hạn cho chủ sở hữu và các bên liên quan, thông qua chiến lược kinh doanh gắn với trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường, đạo đức kinh doanh (ESG).

Thống kê của diễn đàn Đầu tư bền vững và Trách nhiệm của Mỹ (US SIF) cho thấy quy mô đầu tư bền vững, trách nhiệm và tạo ảnh hưởng chiếm 26% tổng giá trị tài sản do các quỹ đầu tư chuyên nghiệp Mỹ quản lý năm 2017 – tương đương 12.000 tỉ USD. Những so sánh cũng cho thấy các quỹ đầu tư ESG có khả năng “kháng cự” tốt hơn các quỹ thông thường khi Covid-19 xảy ra.

PHẠM THẾ ANH: Sau khi dịch bệnh được kiểm soát, trạng thái bình thường mới nhanh chóng được thiết lập ở Việt Nam và kinh tế không mất nhiều thời gian để phục hồi. Tuy nhiên, đặc thù nền kinh tế Việt Nam là phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất nhập khẩu, đồng nghĩa với chuyện phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế thế giới. Hiện tại, Việt Nam đã là một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu, vì thế hoạt động kinh tế phải đặt trong bức tranh toàn cảnh gắn với thế giới.

Ở thời điểm hiện tại, dù Việt Nam phần nào đã kiểm soát được dịch bệnh, nhưng các quốc gia khác như Mỹ, EU – là những thị trường xuất khẩu chính của chúng ta vẫn chưa thể tuyên bố nền kinh tế trở lại bình thường. Khi các đối tác chưa sẵn sàng để nhập hàng hóa trở lại, chắc chắn hoạt động giao thương Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Forbes Vietnam: Để thích nghi với trạng thái bình thường mới (the new normal) sau đại dịch, doanh nghiệp sẽ phải xoay trở ra sao trong ngắn hạn và dài hạn?

PHẠM THẾ ANH: Ngay chính cụm từ “the new normal” đã khẳng định doanh nghiệp sẽ phải thay đổi các chiến lược trong kinh doanh ngắn và dài hạn để thích nghi với tình hình mới. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là luôn chủ động và có ít nhất hai kịch bản khác nhau để kịp thời xoay trở vì hiện tại chúng ta chưa thể biết được bao giờ dịch bệnh sẽ kết thúc.

Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể chuyển hướng sản xuất tạm thời, tập trung vào những mặt hàng đang có nhu cầu cao trong mùa dịch bệnh. Về dài hạn, dịch bệnh càng làm rõ hơn sự phụ thuộc của các doanh nghiệp Việt Nam vào một số thị trường lớn nước ngoài – như châu Âu hay Mỹ. Khi các thị trường này “hắt hơi” thì doanh nghiệp Việt Nam cũng “sổ mũi”.

Đây là thời điểm các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực nhìn về thị trường nội địa và tìm thêm các thị trường thứ cấp/thị trường thay thế như châu Phi hay khu vực Nam Mỹ để đa dạng hóa nguồn cầu.

VŨ TÚ THÀNH: Nhanh chóng chuyển đổi là một từ khóa quan trọng để thích ứng với trạng thái bình thường mới. Chuyển đổi không đồng nghĩa với chuyện tìm cơ hội kinh doanh ngắn hạn, chạy theo bề nổi, mà cần sự linh hoạt trong từng tình huống, bởi lẽ cơ hội đôi khi đi kèm với nguy cơ. Chỉ cần chậm chân, hoặc e ngại chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ đánh mất thời điểm vàng.

Nguy cơ dịch bệnh vẫn còn hiện hữu nên trong tất cả các kịch bản mở cửa hoạt động kinh doanh trở lại, doanh nghiệp rất nên xây dựng một quy trình sản xuất an toàn, trong đó đã tính toán tới các kịch bản nếu như dịch bệnh quay trở lại. Phần chi phí tăng thêm khi phải đầu tư cho những quy trình sản xuất an toàn, nên cơ cấu lại vào phần giá vốn hàng bán để cân bằng dòng tiền với những chi phí khác, hỗ trợ sản xuất và kinh doanh bền vững. 

Doanh nghiệp cần thích nghi ra sao với tình trạng bình thường mới? - ảnh 3

NGUYỄN ĐỨC KHƯƠNG: Doanh nghiệp nên tận dụng thời điểm hiện nay để cấu trúc lại hoạt động, cơ cấu vốn, tài chính, quản trị, bộ máy và nhân sự. Các vấn đề chính cần lưu tâm là tìm cách chủ động về nguồn nguyên vật liệu, tối ưu hóa chi phí đầu vào, đàm phán lại với các đối tác về giá, định hình lại thị trường, tìm kiếm và tiếp cận các phân khúc thị trường mới.

Khủng hoảng là cú hích để doanh nghiệp thay đổi, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), từ đó tạo ra đột phá trong công nghệ, phương pháp quản lý và quy trình sản xuất. Sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu mới, và xu hướng lấy sản xuất trong nước làm chủ đạo sẽ đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh nếu muốn giữ vững vị thế.

Forbes Việt Nam: Ông nhận định thế nào về gói kích cầu kinh tế của Chính phủ dành cho doanh nghiệp, liệu có các giải pháp gì ngoài các gói kích cầu kinh tế như vậy?

ÔNG PHẠM THẾ ANH: Ở thời điểm hiện tại, để đánh giá hiệu quả các gói kích cầu kinh tế (ví dụ như gói tín dụng 285.000 tỉ đồng) đối với các doanh nghiệp là không dễ, vì đa số các gói kích cầu vẫn cần nhiều thời gian hơn để có độ ngấm đến doanh nghiệp.

Ở gói tín dụng 28.000 tỉ đồng, quyền cơ cấu lại nợ, miễn – giảm lãi vay thực tế nằm ở các tổ chức tín dụng khi họ xem xét các yếu tố sức khỏe tài chính và rủi ro nợ xấu của doanh nghiệp. Vì vậy, theo tôi, gói tín dụng này sẽ tác động tích cực tới doanh nghiệp nào vốn đã có sức khỏe tốt và hiện đang có nhu cầu vay vốn để tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh.

VŨ TÚ THÀNH: Tôi nghĩ các gói kích cầu kinh tế đã được Chính phủ đưa ra đáp ứng được vấn đề trấn an tâm lý của người dân và doanh nghiệp. Mặt tích cực là trong dịch bệnh cũng có những giải pháp liên quan tới chính sách công được đầu tư và đẩy mạnh hơn – ví dụ như chính phủ trực tuyến. Nếu như chính phủ trực tuyến vẫn tiếp tục hoạt động hiệu quả dù dịch bệnh kết thúc, đặc biệt là ở những cổng phê duyệt/cấp phép, một khoản chi phí về thời gian và tài chính có thể được gỡ bỏ cho doanh nghiệp.

Forbes việt nam: Liệu chúng ta có các giải pháp gì mang tính chủ động hơn các gói kích cầu kinh tế mang tính giải pháp tình huống?

PHẠM THẾ ANH: Ngay cả khi bệnh dịch trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài, một khi bệnh dịch còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế – tài chính quan trọng trên thế giới.

Do vậy, thúc đẩy đầu tư công trong nửa cuối năm nay là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và có sẵn vốn thực hiện. 

Doanh nghiệp cần thích nghi ra sao với tình trạng bình thường mới? - ảnh 4

Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để nhiều doanh nghiệp và nhiều địa phương có thể tiếp cận, tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc. Đồng thời, cắt giảm ngân sách thường xuyên (tiêu dùng) tối thiểu 10% nên được thực hiện nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do bệnh dịch gây ra.

Cuối cùng, song hành với những chính sách mang tính ngắn hạn hiện tại trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của Covid–19, Việt Nam nên tiếp tục và cải thiện những chính sách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Đặc biệt, dù có chậm trễ, Việt Nam nên từng bước xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid–19.

VŨ TÚ THÀNH: Để hỗ trợ doanh nghiệp, có lẽ cần những giải pháp mang tính tức thời và đồng bộ hơn. Nếu xét hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đầu ra và đầu vào, thì Chính phủ đã phần nào đáp ứng được hỗ trợ đầu vào (vốn), bây giờ là thời điểm doanh nghiệp cần chung tay tìm “đầu ra” cho sản phẩm.

Ở thị trường nội địa, tôi nghĩ chính phủ đã có thể gỡ khóa cho các mảng đã bị đóng băng (du lịch, nhà hàng khách sạn, F&B) – nhưng phải gỡ khóa đồng bộ. Một ví dụ trong ngành du lịch, để kích cầu du lịch hè khi học sinh vẫn tới trường xuyên mùa hè, hoặc cha mẹ phải đi làm bù là không khả thi.

Bên cạnh đó, chính phủ có thể bỏ luôn phương án giãn – giảm thuế, chuyển sang miễn thuế trong vòng ba tháng cho doanh nghiệp sản xuất hoặc bị ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh, bởi lẽ khi họ bị đóng băng hoạt động kinh doanh trong vòng vài tháng thì việc giãn – giảm thuế cũng không thay đổi được các khoản chi phí họ phải cáng đáng.

Dịch Covid-19 đồng thời cũng làm thay đổi một lượng lớn nhu cầu của những đối tượng trung lưu trong xã hội – ví dụ nhu cầu đi du lịch nước ngoài, đồng thời giữ chân một số lượng những người từ nước ngoài trở về Việt Nam tránh dịch. Để kích cầu tiêu dùng nội địa, có thể cân nhắc tới những đối tượng có khả năng kinh tế ổn định và nhiều nhu cầu tiêu dùng hơn là đưa ra các chính sách kích cầu nhắm tới những người dân bình thường vốn đang gặp khó khăn khi thu nhập giảm.

Với những người làm chính sách, tôi cũng vẫn đưa ra quan điểm phải linh hoạt trong điều chỉnh các quy định và thể chế. Ví dụ như các quy định để khoanh vùng dịch bệnh, không thể chỉ vì một cá nhân nhiễm bệnh mà đóng cửa hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp.

Quan trọng hơn, tôi nghĩ các nhà làm chính sách phải theo sát thị trường và nắm bắt những cơ hội đi kèm dịch bệnh. Mới đây nhất, chúng ta đã bỏ lỡ thời điểm vàng để xuất khẩu gạo. Ngoài ra, tôi nghĩ trạng thái bình thường mới đòi hỏi người làm chính sách phải nắm rất rõ một chuỗi cung khép kín từ các yếu tố đầu vào, logistics, vận chuyển tới sản xuất và xuất khẩu.

NGUYỄN ĐỨC KHƯƠNG: Doanh nghiệp cần một môi trường vĩ mô ổn định và một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, cạnh tranh lành mạnh, ít rào cản hành chính. Nhà nước ưu tiên các chính sách hỗ trợ (tài chính, công nghệ, thuế…) cho các tập đoàn lớn có dự án phối hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) để hình thành chuỗi giá trị nội địa hay quốc tế.

Thúc đẩy sự ra đời “cụm cạnh tranh” doanh nghiệp – trường đại học và viện nghiên cứu để đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, hoặc “cụm cạnh tranh” kết nối vùng miền để hình thành nên các chuỗi giá trị mới.

Tiếp tục đặt trọng tâm hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển (R&D) trong doanh nghiệp, vì đây là hai yếu tố quan trọng để các quốc gia xây dựng năng lực cạnh tranh trong dài hạn.

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 85, tháng 6.2020


Đọc thêm>>>
50 doanh nghiệp niêm yết tốt nhất 2020: Sức bật thị trường nội địa
Ranh giới giữa khủng hoảng và suy thoái
Giai đoạn mới, mô hình mới
Kinh tế Đông Á – Thái Bình Dương trước cú sốc đại dịch
Suy thoái kinh tế thế giới sẽ xoay quanh tâm điểm là Trung Quốc?
Sau thương chiến Mỹ - Trung, chuỗi cung châu Á tái định hình vì dịch bệnh

"Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình". ---- Socrates - Triết gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 89 tháng 10.2020

 Số 89 tháng 10.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - DANH SÁCH 10 NGÂN HÀNG KINH DOANH HIỆU QUẢ NHẤT

    Các ngân hàng tư nhân năng động chiếm tỉ lệ áp đảo và xuất hiện ở các vị trí dẫn đầu.

  • - HÀNH TRÌNH CHINH ĐÔNG

    Đặt ưu tiên hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững, ông Trịnh Văn Tuấn xây dựng ngân hàng Phương Đông theo một lối riêng.

  • - THÀNH TỰU HAI THẬP NIÊN XÂY NỀN

    Nhiều năm ở chiếu dưới, Manulife Việt Nam vươn lên dẫn đầu thị phần bảo hiểm khai thác mới.

  • ĐƯỜNG ĐẾN SIÊU ỨNG DỤNG

    Có trong tay 20 triệu người dùng, MoMo đặt mục tiêu 50 triệu khách hàng và thành siêu ứng dụng.

  • - SỰ TRỞ LẠI CỦA “NGƯỜI CŨ”

    Ông Huỳnh Thanh Phong dẫn dắt FWD, gương mặt mới trong làng bảo hiểm, nhanh chóng phát triển.

  • - PHỎNG VẤN: TÌM KIẾM TRẢI NGHIỆM VƯỢT TRỘI

    Thực trạng, cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số của ngân hàng theo quan điểm lãnh đạo ngân hàng VIB.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT SINGAPORE