Bàn về nhu cầu chuyển đổi trong giáo dục, đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế tại Việt Nam, chuyên gia giáo dục Trần Đức Cảnh cho rằng, TP.HCM cần có một đại học đa ngành y khoa, tập trung cả việc phòng bệnh lẫn chữa bệnh.

LTS: Dư luận những ngày qua đang quan tâm nhiều đến việc thay đổi tên gọi hay mô hình hoạt động của Đại học Y Dược TP.HCM. Forbes Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Trần Đức Cảnh, một chuyên gia giáo dục từ Hoa Kỳ (nguyên thành viên Hội đồng Cố vấn tuyển sinh Đại học Harvard, nguyên Giám đốc Phát triển nguồn nhân lực chính quyền bang Massachusetts). Ông hiện là thành viên Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực của Chính phủ Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021.

Ông Cảnh nhấn mạnh sự cần thiết của việc chuyển đổi là thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về ngành y tế theo hướng rộng và bao quát. Điều này quan trọng hơn là tên gọi.

Forbes Việt Nam: Theo ông, bản chất của sự chuyển đổi từ "Đại học Y dược" thành "Đại học Sức khỏe" hay ại học Khoa học Sức khỏe" nên được hiểu như thế nào? Đâu là mối quan hệ biện chứng giữa tên gọimô hình?

Cần một đại học đa ngành y khoa, tập trung cả phòng bệnh lẫn chữa bệnh - ảnh 1

Ông Trần Đức Cảnh: Từ lâu Việt Nam chúng ta hiểu ngành y theo nghĩa hẹp, nặng về chữa bệnh nhưng nhẹ về phòng bệnh. Trong khi ai cũng biết phòng bệnh bao giờ cũng tốt và tiết kiệm hơn nhiều. Ý thức về y tế trong gia đình và cộng đồng còn giới hạn một phần là do môi trường sống và do thiếu kiến thức y tế. Do đó quan trọng là sự chuyển đổi cách nhìn về ngành y tế, rộng và bao quát hơn theo tôi là rất cần thiết. Tôi đánh giá quan trọng ở nội dung, kế hoạch cụ thể và mục tiêu đào tạo đặt ra hơn là hình thức.

Từ “sức khỏe” có thể dịch từ “health science”, nhưng trong tiếng Anh nên hiểu là “khoa học y tế” hay “y khoa”. Từ “sức khỏe” mang tính chung chung, chưa thể hiện hết tính ngành như y, dược, nha, điều dưỡng, vật lý trị liệu, y tế công cộng, nghiên cứu... Hơn nữa Đại học Y Dược đã có lịch sử lâu đời và uy tín nhất định, nếu chỉ đổi tên thôi thì theo tôi không cần thiết.

Tuy nhiên, tôi hoàn toàn ủng hộ một “đại học y” đa ngành nêu trên cùng với bệnh viện, viện và trung tâm nghiên cứu. Tôi nghĩ TP.HCM năng động và phát triển với hơn 10 triệu dân, xứng đáng có một đại học y có uy tín và chất lượng như thế.         

Chúng ta cần phân biệt về “trường đại học” và “đại học” thế nào cho đúng, thưa ông?

- Dù trong Luật Giáo dục Đại học sửa đổi có phân biệt đại học và trường đại học, nhưng sự phân biệt này mang tính cấu trúc và quản lý cứng nhiều hơn, phần nào giống như cơ cấu phân biệt thành phố loại I, II hay III. Có thể hiểu nôm na như là những tiêu chí để một thành phố loại III phấn đấu để đạt được loại II, loại I. Tuy vậy, nơi đáng sống nhất thực tế có thể không phải là thành phố loại I hay II.

Sự khác biệt giữa đại học và trường đại học theo tôi không mang nhiều ý nghĩa. Điều quan trọng là nơi đó có đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra, hoặc có mang lại giá trị cho người học và cho xã hội nói chung hay không. Tôi nghĩ các trường đại học không cần quá lo lắng, cứ làm tốt vai trò của mình thì mọi việc sẽ ổn.

Như tôi đã đề cập, đó chỉ là phân cấp theo mô hình quản lý cứng, chưa hẳn đủ linh động và sáng tạo, nhiều khi gây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trường phát triển.

Ông bình luận gì về tên gọi và cách gọi tên nên như thế nào mới đúng với bản chất của các mô hình đại học, nhất là với một ngành quan trọng như y khoa?

- Ở Việt Nam và vài nước trên thế giới có một quan điểm hơi “thực tế” trong vấn đề danh xưng. Nghĩa là cứ phải liệt kê ra hết thì người ta mới biết mình có làm hay dạy ngành gì. Ví dụ trước kia là Đại học Văn khoa sau đổi thành trường Đại học Khoa học – Xã hội và Nhân văn. Có cần thiết như vậy không? Trong khi đó, chỉ cần làm tốt thì chỉ trong thời gian nào đó mọi người sẽ biết và tìm đến, đặc biệt là đối với bậc đại học.

Ví dụ các trường ở Mỹ như Princeton, Stanford University, William hay Wellesley College, trường công như UCLA, University of Michigan…, thậm chí đọc tắt nhưng ai cũng biết, đâu cần phải liệt kê ngành trong tên trường. Vì vậy tôi cho rằng điều quan trọng là nội dung chương trình đào tạo phong phú, chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển rộng của ngành và cho xã hội.

Theo ông mô hình đào tạo y khoa bậc đại học tại Việt Nam hiện nay có sự tương tự hay khác biệt nào so với các mô hình đào tạo phổ biến khác trên thế giới?

- Tại Mỹ, ngành y, dược, nha, điều dưỡng, y tế cộng đồng… được cho là có chuẩn cao hàng đầu thế giới về cả nội dung giảng dạy, thời gian yêu cầu và nội trú, kinh nghiệm thực tập cần thiết.

Đào tạo một bác sĩ đa khoa (gia đình) ở Mỹ mất 11 năm (4 năm cử nhân, 4 năm trường y và 3 năm nội trú). Còn với chuyên khoa thì phải cộng thêm 1,5 đến 3 năm.

Còn ở Việt Nam, việc đào tạo một bác sĩ mất 6 năm, sau đó chuyên khoa I (hay thạc sĩ) và chuyên khoa II (hay tiến sĩ) chiếm tổng cộng thời gian có thể lên đến 11 năm hoặc hơn, tương đương với thời gian đào tạo một bác sĩ ở Mỹ. Sự khác biệt là, bác sĩ Mỹ phải mất 11 năm mới được hành nghề; dược sĩ và nha sĩ phải mất 7-8 năm.

Dựa trên những thông tin có được về các chương trình đào tạo ngành y, quan điểm của tôi:

Thứ nhất, để tuyển chọn đào tạo một bác sĩ tương lai, cần đánh giá kỹ lưỡng về năng khiếu, sở thích, tâm lý, phẩm chất y đức và khả năng phát triển chuyên môn, thay vì chỉ xét điểm thi, học bạ... Theo tiêu chí này, ta có thể nhận một ứng viên 23 điểm nhưng từ chối ứng viên 30/30 điểm nếu thấy không phù hợp với ngành.

Thứ hai, nên hệ thống và chuẩn hóa chương trình đào tạo và cấp bằng bác sĩ. Một bác sĩ tốt nghiệp nên có trình độ tối thiểu tương đương thạc sĩ hay chuyên khoa I và có thời gian nội trú ít nhất hai năm.

Thứ ba, không nhất thiết hiệu trưởng trường y phải là bác sĩ hay dược sĩ. Giám đốc bệnh viện cũng thế. Quản lý là một lĩnh vực hoàn toàn khác. Hiếm thấy một giám đốc bệnh viện ở Mỹ là bác sĩ nhưng bệnh viện hoạt động rất tốt.

Trong mô hình giáo dục đại học tại Việt Nam, trường đại học như Y Dược TP.HCM tương đương với khái niệm quốc tế “university” hay “college” hay “school”? Với hình thức đó, trường có gặp giới hạn nào trong đào tạo nếu tính theo chuẩn quốc tế?

- Ở Mỹ ít thấy một trường y nằm riêng (độc lập). Hầu hết đều nằm trong các đại học lớn như Stanford, Harvard, Johns Hopkins... Các trường y, nha, trường y tế cộng đồng được gọi là “school” hay “college” (trường). Các trường này thường không đào tạo cấp cử nhân mà chỉ đào tạo thạc sĩ, bác sĩ, tiến sĩ. Do đó, không có giới hạn đào tạo cấp tiến sĩ.

Tuy nhiên cũng có một số trường y độc lập mà Đại học Y Dược TP. HCM có thể tham khảo mô hình như đại học danh tiếng California San Francisco (UCSF). Trường này nằm trong hệ thống 10 đại học California, chuyên về lĩnh vực y khoa, y tế, nghiên cứu… 

Là thành viên Hội đồng Quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực, ông nhận định thế nào về vấn đề phát triển nhân lực ngành y tế hiện nay?

- Nhìn chung, tôi thấy còn nhiều vấn đề cần làm, từ quản lý, chính sách, nội dung chương trình đến chất lượng đào tạo của ngành y. Ngoài những chương trình đào tạo truyền thống, cần chú trọng hơn trong việc đào tạo ngành điều dưỡng, y tế công cộng, nghiên cứu y học, công nghệ ứng dụng cho ngành y, nghiên cứu và sản xuất dược phẩm…

Tuy nhiên, việc sắp xếp ngành y (ngành chuyên môn) không quá khó so với các mảng giáo dục và đào tạo khác. Bản thân ngành y tế cũng có những tiến bộ trong thời gian qua, theo hướng mở, hội nhập và có sự tham gia rộng rãi và đa dạng hơn.

Nhìn rộng hơn ở lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam, có hay không nhu cầu về việc chuyển đổi tương tự ở các ngành đào tạo khác?

- Quá trình phát triển của giáo dục đại học trong 2-3 thập niên qua có khá nhiều bất cập, lẫn lộn đâu đó hiện tượng “growing pains” (đứa trẻ lớn nhanh bị đau khớp xương), giáo điều, tư duy kiểm soát và quản lý cứng, ném đá dò đường, thiếu tính đột phá trong giáo dục đại học.

Có một điều được các nhà giáo dục nhận thấy rất rõ là tính cấp bách của sự chuyển đổi các chương trình đào tạo, theo hướng hội nhập và phát triển. Nếu không hội nhập thì rất khó phát triển, không riêng đại học mà ở nhiều những lĩnh vực khác.


MÔ HÌNH TỔ CHỨC ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM

Đại học Y Dược TP.HCM tiền thân là trường Đại học Y khoa Sài Gòn (Y khoa Đại học đường Sài Gòn) được thành lập năm 1947.

Từ năm 1961 lần lượt được phân chia thành Y khoa Đại học đường Sài Gòn, Dược khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn. Cả ba trường hoạt động độc lập, nhưng cùng với các trường đại học chuyên ngành khác đều thuộc Viện Đại học Sài Gòn.

Từ năm 1976, trường Đại học Y Dược TP.HCM được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba trường trên cùng với trường Đào tạo cán bộ y tế miền Nam. Các trường đại học thời điểm đó được chuyển về Bộ chủ quản, Viện Đại học Sài Gòn không còn hoạt động.

Từ năm 1990, lãnh đạo nhà trường kiến nghị Bộ Y tế về việc xây dựng Viện Đại học sức khỏe. Ngoài ba khoa Y, Dược và Răng - Hàm - Mặt, đến nay nhà trường đã mở thêm 4 khoa mới, gồm: khoa Khoa học cơ bản (1994); Y học cổ truyền (1998); Điều dưỡng - Kỹ thuật y học (1998); Y tế công cộng (1999); năm 2000 mở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM trên cơ sở phát triển phòng khám đa khoa của trường.

Nguồn: Website Đại học Y Dược TP.HCM

Đọc thêm>>>
Thay đổi để bứt phá trong y tế số
Thách thức của y tế số: Lấy bệnh nhân làm trung tâm
Hệ sinh thái khởi nghiệp y tế: Cần xây dựng chứ không thể nương nhờ
Trong cách CMCN 4.0, tốc độ sáng tạo mới quyết định thành công
[Infographics] Startup công nghệ y tế tại Việt Nam: Nhỏ và ít
[Infographics] Bức tranh giáo dục VN: Chi tiêu bao nhiêu, học gì, học ở đâu?
Top 50 trường quốc tế 2019: Du học Mỹ liệu có còn là xu hướng?