Trong xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng và sản xuất trên toàn cầu, Việt Nam được đánh giá là một điểm sáng của dòng vốn quốc tế. Cùng Forbes Việt Nam ghi nhận khẩu vị đầu tư và các kiến nghị chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài. 

Cải thiện hạ tầng để thu hút vốn đầu tư  - ảnh 1

LỜI TÒA SOẠN: Trong xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng và sản xuất trên toàn cầu,Việt Nam trở thành một điểm sáng thu hút vốn đầu tư quốc tế. Forbes Việt Nam có cuộc trao đổi với Keven Cheng - trưởng hiệp hội Phát triển Ngoại thương Đài Loan (Taitra) tại TP.HCM; ông Nguyễn Hải Minh - phó chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) và ông Hirai Shinji - trưởng đại diện tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM, ghi nhận khẩu vị của giới đầu tư và các kiến nghị chính sách.


FORBES VIỆT NAM: Nhận định của ông về FDI vào Việt Nam thời gian qua?

HIRAI SHINJI: Nhìn vào số liệu chúng ta có thể thấy Việt Nam nằm trong tốp ba các quốc gia mà nhà đầu tư Nhật Bản có rót vốn. Trong vòng 10 năm qua, JETRO đều có những cuộc khảo sát với các doanh nghiệp Nhật hoạt động tại từng quốc gia với câu hỏi chung “Ở thời điểm hiện tại, các vị đang có hoạt động kinh doanh hay có ý định mở rộng kinh doanh ở những quốc gia nào?”.

Việt Nam luôn đứng trong tốp ba những quốc gia nhận được nhiều câu trả lời nhất. Chúng ta có thể thấy trong hai năm gần đây, khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc đang ngày càng thu hẹp, đặc biệt là năm 2019 khi tỷ lệ nhà đầu tư chọn Việt Nam là 41% và Trung Quốc là 48%.

Năm 2018, tỷ lệ nhà đầu tư chọn Thái Lan và Việt Nam gần như xấp xỉ (tương ứng 34,8% và 35,5%). Nhưng tới năm 2019, tỷ lệ nhà đầu tư chọn Việt Nam tăng vọt lên 41%, còn Thái Lan chỉ lên tới 36,3%. Tôi nghĩ từ “phổ biến” có thể dành cho Việt Nam khi nhắc tới các quốc gia mà nhà đầu tư Nhật Bản muốn mở rộng hoặc đặt công việc kinh doanh của họ.

Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Nhật dịch chuyển việc kinh doanh của họ (bao gồm dịch chuyển một phần sản xuất hoặc có kế hoạch dịch chuyển) ra khỏi Trung Quốc để tránh khỏi cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Khảo sát của chúng tôi với 159 doanh nghiệp Nhật Bản trong năm 2019 chỉ ra, có tới 37,7% trong số họ dự kiến sẽ dịch chuyển sản xuất trong năm 2020 hoặc trễ hơn.

Để nhận xét chung về tình hình đầu tư của các nhà đầu tư Nhật tại Việt Nam trong khoảng một năm trở lại đây, tôi sẽ đưa ra ba điểm. Đầu tiên, JETRO nhận thấy nhóm ngành không phải là ngành sản xuất (non-manufacture) đang có xu hướng gia tăng, kể cả về số lượng dự án lẫn giá trị của dự án.

Trong 30 năm qua có 4.835 dự án, tỉ trọng các dự án thuộc nhóm ngành ngoài sản xuất chỉ còn khoảng 21%, các dự án thuộc nhóm dịch vụ tư vấn, bán lẻ và phân phối cũng tương đương – 21%, tiếp theo là nhóm ngành công nghệ thông tin và một số ngành khác. Điểm tiếp theo là sự có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày một nhiều hơn.

Cuối cùng, các tỉnh lân cận thành phố lớn đang làm khá tốt trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư và trở nên ngày càng phổ biến đối với các nhà đầu tư Nhật.

NGUYỄN HẢI MINH: Sau khi hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) có hiệu lực, tôi nghĩ vị trí của Việt Nam sẽ được củng cố khi các nhà đầu tư từ châu Âu cân nhắc về địa chỉ rót vốn đầu tư.

Có ba xu hướng chính với dòng vốn đầu tư từ EU, đó là tăng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, đẩy mạnh việc bán hàng ở thị trường Việt Nam, thông qua mở rộng kênh phân phối hoặc đặt các chi nhánh tại Việt Nam. Và một xu hướng nữa là các nước thứ ba, không phải nhà đầu tư châu Âu sẽ chuyển một phần hoạt động sản xuất sang Việt Nam, sau đó xuất ngược lại sang các thị trường châu Âu hoặc Mỹ nhằm tận dụng mức chênh lệch thuế suất.

Về lý thuyết, tôi nghĩ dòng vốn từ châu Âu sẽ tăng, nhưng tăng bao nhiêu, tăng ở những lĩnh vực cụ thể nào thì phải đợi thực tế trả lời.

KEVEN CHENG: Đài Loan bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 1990. Giai đoạn 1992-2010, Đài Loan là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Nhật Bản vượt lên đầu bảng từ năm 2011 và từ 2014 tới bây giờ quán quân là Hàn Quốc.

Cải thiện hạ tầng để thu hút vốn đầu tư  - ảnh 2

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, giai đoạn 1998-2019, có 2.692 dự án có vốn đầu tư từ Đài Loan đầu tư vào Việt Nam với tổng giá trị lên tới 32,36 tỉ USD. Hiện tại Đài Loan đang đứng hạng tư, chiếm 8,93% tổng thị phần FDI.

Trong quá khứ, những ngành công nghiệp chính mà các nhà đầu tư Đài Loan đầu tư chủ yếu ở lĩnh vực công nghiệp chế biến và sản xuất, tập trung ở TP.HCM và các tỉnh lân cận. Nhưng từ sau năm 2006, họ chuyển dần đầu tư ra phía Bắc và đẩy mạnh đầu tư vào những nhóm ngành yêu cầu lượng nhân lực lao động lớn, cũng như tăng tỷ trọng đầu tư vào các nhóm ngành công nghệ.

Trước đây, những nhóm ngành nhận được số lượng vốn lớn là sản xuất công nghiệp, dệt may, da giày, còn bây giờ các ngành công nghệ cao, công nghệ thông tin đang dần chiếm lĩnh thị phần. 

FORBES VIỆT NAM: Đâu là những lợi thế so sánh của Việt Nam đối với nhà đầu tư? Và đâu là những điểm bất lợi?

HIRAI SHINJI: Trong cuộc khảo sát hằng năm của JETRO với cộng đồng doanh nghiệp Nhật hoạt động tại Việt Nam, lợi thế đầu tiên là thị trường tiềm năng, hai yếu tố còn lại là sự ổn định chính trị xã hội và chi phí nhân công vừa phải.

Ngược lại, những điểm hạn chế của Việt Nam mà chúng tôi thu thập được từ dữ liệu của cuộc khảo sát lần lượt là tần suất tăng lương cho nhân sự, khó khăn về nguồn nguyên liệu, khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng bộ (QC), và thị trường dễ phân mảnh khi có nhiều đối thủ tham gia.

NGUYỄN HẢI MINH: Có ba vấn đề được nhà đầu tư quan tâm nhất, đó là cơ sở hạ tầng – đất đai, hệ thống logistics, nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu. Bởi lẽ nhà đầu tư châu Âu có yêu cầu cao hơn hẳn về chất lượng nguồn nhân lực so với các doanh nghiệp từ Hàn Quốc hay Nhật Bản.

Cuối cùng, và có lẽ là vấn đề quan trọng nhất, doanh nghiệp từ châu Âu vẫn còn quan ngại về thủ tục hành chính, thể chế, và môi trường đầu tư của Việt Nam. Những ưu đãi về đầu tư hay thủ tục hành chính của Việt Nam phải minh bạch và nhất quán, hiện tại vẫn có những quy định liên quan đến đầu tư thay đổi chỉ sau một năm. Những quy định rõ ràng, nhất quán là thứ nhà đầu tư quan tâm nhất.

KEVEN CHENG: Có thể nói bối cảnh chung đầu tư tại Việt Nam khá tốt, các công ty sản xuất ở đây cũng có thể tận dụng được ưu đãi về thuế suất vì Việt Nam đã có nhiều hiệp định thương mại với các đối tác. Chính trị và xã hội Việt Nam khá ổn định so với các quốc gia khác trong khu vực và cũng chào đón các nhà đầu tư.

Khoảng cách giữa Đài Loan và Việt Nam khá gần và văn hóa cũng có nhiều nét tương đồng là một thuận lợi khác. Việt Nam có chi phí nhân công rẻ, cơ cấu dân số trẻ so với phần còn lại của khu vực và lao động Việt Nam cũng chăm chỉ.

Bên cạnh đó môi trường đầu tư vẫn còn các nhược điểm. Dù chính phủ có những cải cách về thể chế và chính sách trong nhiều năm qua nhưng vẫn chưa có quá nhiều đột phá. Hạ tầng của Việt Nam chưa tốt, hệ thống logistics chưa đồng bộ. Điều đáng quan ngại, chất lượng của môi trường, ô nhiễm không khí ngày càng tăng ở Việt Nam.

Với nhà đầu tư nước ngoài việc đầu tư vào Việt Nam phải cân nhắc vì chính phủ Việt Nam đang ngày càng gắt gao hơn trong việc kiểm soát các tiêu chí có thể gây ra ô nhiễm môi trường. Một số tỉnh thành cũng sẽ e ngại nếu như doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực có thể đe dọa môi trường. Bên cạnh đó, chi phí lao động và chi phí thuê đất, mặt bằng ngày càng tăng cao.

FORBES VIỆT NAM: Ông nghĩ thế nào về nhận định làn sóng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam?

HIRAI SHINJI: Dịch bệnh Covid-19 khiến cho nhiều doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam gặp vấn đề về nguồn nguyên liệu. Nhưng đó là một vấn đề toàn cầu, không riêng gì doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam. Đại dịch này cũng khiến cho chúng ta nhận ra chuỗi cung ứng toàn cầu dễ bị tổn thương như thế nào.

Cải thiện hạ tầng để thu hút vốn đầu tư  - ảnh 3

Để giảm thiểu rủi ro, nhà sản xuất phải tìm những nguồn cung cấp bền vững và đáng tin cậy đối với các loại nguyên liệu cơ bản, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Nhưng tôi phải khẳng định lại một điều, những nhà đầu tư Nhật Bản không chuyển dịch tất cả hoạt động sản xuất của họ từ một quốc gia này sang một quốc gia khác, mà sẽ tìm kiếm một đơn vị cung ứng khác để đa dạng thị trường và giảm rủi ro nếu chuỗi cung ứng bị phá vỡ.

Nhà đầu tư Nhật Bản đang đứng ở vị trí thứ năm trong số những đất nước đầu tư vào Việt Nam, trước đó chúng tôi đứng ở vị trí thứ hai. Khi bạn nhìn vào số liệu, số lượng dự án đăng ký mới và mở rộng của nhà đầu tư Nhật Bản không thật sự quá cao, nhưng giá trị đầu tư tăng lên rõ rệt.

NGUYỄN HẢI MINH: Việt Nam vẫn phải cạnh tranh với những quốc gia láng giềng, như Ấn Độ, Thái Lan hay thậm chí Campuchia. Xét riêng về vị trí địa lý, rõ ràng Việt Nam hiện đang dẫn đầu, nhưng nếu như xét về môi trường đầu tư, kinh doanh thì chưa chắc.

Ngoài ra, tôi nghĩ việc dịch chuyển quy trình/ hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam đối với các nhà đầu tư châu Âu có lẽ chỉ mới ở mức ý tưởng, bởi lẽ thị trường Trung Quốc vẫn rất rộng lớn. Nhưng nếu xét về tốc độ hay quy mô mở rộng thì sự dịch chuyển của những công ty EU từ Trung Quốc sang vẫn còn chưa rõ ràng như Nhật hay Hoa Kỳ.

Trong vòng 1-2 năm tới, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều doanh nghiệp đến từ Nhật hay Mỹ, nhưng châu Âu thì có lẽ là chưa.

KEVEN CHENG: Tôi nghĩ hiện tại các ngành công nghiệp đã có sẵn hạ tầng sẽ không dễ để dịch chuyển và thay đổi. Chúng tôi đề xuất rằng Việt Nam có thể hoạch định các khu công nghiệp lớn với nhiều khu nhỏ dành cho những ngành công nghiệp chuyên biệt, như sản xuất, điều trị y tế, máy móc thông minh, tự động hóa... 

Với điều kiện hiện tại, Việt Nam chưa thể xây nên những khu vực riêng biệt dành cho các nhóm ngành, nhưng hoàn toàn có thể tối ưu hóa những gì đang có. Ví dụ, bố trí các khu công nghiệp gần những khu vực dồi dào lao động nhằm tối ưu nguồn lực. Các nhà đầu tư từ Đài Loan cũng đang có ý định xây dựng những khu vực nhà máy ở gần các trường dạy nghề để dễ dàng tuyển chọn lao động có tay nghề.

Việt Nam cũng phải đảm bảo các yêu cầu về cơ sở hạ tầng, điện nước để đáp ứng nhu cầu sản xuất cho nhà đầu tư. Nếu những công ty lớn tới Việt Nam thì kéo theo làn sóng các nhà cung ứng trong chuỗi của họ, nhưng nếu Việt Nam đã có sẵn những đơn vị cung ứng nội địa thì họ sẽ sử dụng ngay những đơn vị này.

FORBES VIỆT NAM: Theo ông, để đón vốn đầu tư tốt nhất, chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam nên làm gì?

HIRAI SHINJI: Trước Covid-19, Việt Nam đã là một điểm đến phổ biến, và điều này ngày càng rõ rệt hơn. Mọi người thường nói rằng Việt Nam tỏa sáng từ sau thương chiến, nhưng tôi nghĩ là từ trước đó nữa và chính phủ các bạn rất nên tận dụng sự chú ý của các nhà đầu tư để thu hút thêm dòng vốn đầu tư chất lượng.

Tôi có một vài kiến nghị, đó là các bạn có thể cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng, hệ thống logistics và công nghệ thông tin. Các công ty ở Nhật phần lớn đều đặt văn phòng chính ở TP.HCM, trong khi nhà máy của họ lại đặt ở các tỉnh lân cận, và để vận chuyển hàng hóa hiệu quả, tiết kiệm chi phí hơn, chúng tôi mong chờ hạ tầng kết nối giữa TP.HCM với các tỉnh lân cận sẽ nhanh chóng cải thiện.

Cải thiện hạ tầng để thu hút vốn đầu tư  - ảnh 4

NGUYỄN HẢI MINH: Đa số các doanh nghiệp châu Âu đầu tư vào Việt Nam vốn dĩ đã có sẵn những nền tảng công nghệ, nhưng cũng vì thế mà tiêu chuẩn về nhân sự của họ cao hơn hẳn so với những quốc gia khác. Để thu hút thêm đầu tư của những doanh nghiệp này từ châu Âu, tôi nghĩ chính phủ phải có thêm nhiều chính sách ưu đãi đối với những doanh nghiệp có hoạt động chuyển giao công nghệ, và chính sách này phải rõ ràng.

Một điểm nữa là nên có những đòn bẩy để doanh nghiệp Việt Nam tập trung cho nguồn lực chất lượng cao nhiều hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp Việt. Nếu không, dù có hợp tác với nhiều doanh nghiệp châu Âu sở hữu công nghệ hàng đầu thế giới, doanh nghiệp Việt cũng khó tiếp nhận, học hỏi những kỹ thuật/công nghệ cao.

KEVEN CHENG: Tôi nghĩ Việt Nam nên có những thỏa thuận về thuế, các quy định để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp, song song đào tạo nhân lực chất lượng cao, khi đó có thể thu hút nhiều vốn hơn. Yếu tố nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực kỹ thuật là quan trọng nhất, vì các bạn khó mà thu hút được các công ty công nghệ nếu như không có nguồn lực chất lượng cao tại chính Việt Nam.

Để nâng khả năng của nguồn lực chất lượng cao thì phải đầu tư vào giáo dục. Một phần khác là từ những nhân lực chất lượng cao tới từ làn sóng đầu tư từ Đài Loan, nhưng để phối hợp được với họ thì Việt Nam cũng phải có những nhân lực với trình độ tương tự. Nếu không họ cũng sẽ chỉ là người thực thi và không học hỏi được gì từ chuyên gia nước ngoài.

Việc phát triển kỹ thuật không thể chỉ dừng ở những ngành sản xuất điện tử truyền thống. Ở Đài Loan, chúng tôi còn có những ngành công nghệ cao khác, ví dụ như sản xuất chất bán dẫn. Bên cạnh đó, chúng tôi nghĩ Việt Nam hiện tại có vẻ đang bị bỏ xa về công nghệ so với các quốc gia khác.

Để thu hút các doanh nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, các bạn phải trở thành người dẫn đầu của kỹ thuật, không phải là người theo đuôi. Tôi có thể dẫn ví dụ AmTRAN Technology và Pegatron là những doanh nghiệp đã tìm đến Taitra để hỏi thăm về việc lắp đặt nhà máy tại Việt Nam.

Những công ty nói trên là những công ty lớn và họ sẽ có một nhóm các nhà cung ứng đi cùng nếu họ muốn dịch chuyển sản xuất, vì thế nếu thật sự họ dịch chuyển sang Việt Nam thì các bạn sẽ có nhiều cơ hội để hấp thu đầu tư hơn nữa.

FORBES VIỆT NAM: Trong tương lai, ông nghĩ các nhà đầu tư sẽ tăng đầu tư vào lĩnh vực nào?

HIRAI SHINJI: Tôi nghĩ thị trường của Việt Nam vẫn còn rất tiềm năng, ngành đầu tiên mà tôi nghĩ sẽ nhận được thêm sự chú ý của nhà đầu tư Nhật Bản là ngành bán lẻ, bằng chứng là bạn thấy đã có ba cửa hàng Uniqlo xuất hiện ở TP.HCM chỉ trong vòng nửa năm qua.

Lĩnh vực thứ hai, nguồn vốn FDI từ Nhật Bản sẽ tăng trong lĩnh vực nông nghiệp, vì lĩnh vực này các bạn có thế mạnh. Nếu tập trung vào sức mua của thị trường, tôi nghĩ TP.HCM sẽ là nơi thu hút nhiều các doanh nghiệp Nhật Bản. Nhưng giá đất tại TP.HCM quá cao nên chắc là sẽ khó khăn cho các nhà đầu tư, cộng với những rào cản về chi phí lao động và tắc nghẽn hạ tầng.

Hiện nay tôi chưa dám khẳng định, nhưng tôi nghĩ 3-5 năm nữa, khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ là một lựa chọn bên cạnh TP.HCM. Làn sóng mở rộng hoạt động đầu tư của Nhật cũng không diễn ra nhanh chóng ồ ạt, sẽ có sự thăm dò và có những động thái đầu tư theo từng bước.

NGUYỄN HẢI MINH: Năng lượng tái tạo, sản xuất và chế biến, bất động sản là ba nhóm ngành nhận được sự quan tâm nhất. Phân phối và cung cấp dịch vụ là lĩnh vực ghi nhận một số lượng lớn các dự án từ châu Âu, nhưng giá trị đầu tư chỉ chiếm một phần khá nhỏ.

KEVEN CHENG: Năm 2019, lượng vốn đầu tư từ Đài Loan vào Việt Nam tăng gấp đôi so với năm 2018, giá trị vốn đầu tư tăng chứ số lượng công ty không tăng. Sau Covid-19 và thương chiến Mỹ – Trung, Việt Nam đã trở thành một điểm đến được nhiều tập đoàn nhắm tới, và nhiều công ty ở các quốc gia khác sẽ chuyển tới Việt Nam vì Việt Nam khi so sánh về tổng thể với các quốc gia khác vẫn tốt hơn.

Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường cung cấp thông tin về đầu tư tới cộng đồng doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam và cung cấp cả thông tin tới cộng đồng doanh nghiệp ở Đài Loan, những người có ý định muốn đầu tư vào Việt Nam. C

ó thể có một số lượng công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam do khách hàng của họ yêu cầu hoặc do họ khắc phục được các vấn đề rào cản về thuế. Đây là một xu hướng, không chỉ riêng các công ty Đài Loan dịch chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam, đặc biệt là Covid-19 diễn ra khiến các nhà đầu tư nhận thấy họ không thể nào chỉ tập trung nguồn lực sản xuất vào một quốc gia duy nhất.

Foxconn là một điển hình khi họ có nhà máy ở 16 quốc gia trên thế giới để phân bổ sản xuất, ví dụ họ có nhà máy ở Việt Nam, Mỹ và Ấn Độ để giảm rủi ro trong sản xuất.

FORBES VIỆT NAM: Việt Nam nên làm gì để tiếp tục mở rộng và củng cố thương mại giữa hai bên sau khi EVFTA có hiệu lực?

NGUYỄN HẢI MINH: Ở châu Âu, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) vẫn chiếm phần lớn, vì thế chính họ cũng không thể hiểu hoặc nắm rõ hết những quy định, ưu đãi trong EVFTA. Việc đầu tiên cả hai chính phủ phải đẩy mạnh là nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp ở hai phía về những ưu đãi và quy định của EVFTA.

Ví dụ đơn giản nhất, những quy định về nguồn gốc xuất xứ có thể “làm khó” một số doanh nghiệp hiện đặt chuỗi cung ứng tại Trung Quốc hay những quốc gia khác trong khu vực. Nếu truyền thông hiệu quả, doanh nghiệp hiểu được ưu đãi dành cho họ, họ sẽ tự động dịch chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam.

Lợi ích kinh tế và thương mại từ EVFTA mang lại cho hai phía chưa thể thấy ngay trong khoảng thời gian ngắn. Việc thu hút thêm đầu tư từ châu Âu cũng không diễn ra trong một sớm một chiều. Để hấp thu những ưu đãi từ EVFTA, cả hai phía đều phải nỗ lực truyền thông và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 86, tháng 7.2020


Đọc thêm >>>
Dịch chuyển chuỗi cung ứng: Táo Mỹ trồng đất Việt
Bên trong cứ điểm sản xuất của Nike, Adidas
Dấu chân GE tại Việt Nam
Doanh nghiệp Mỹ muốn đầu tư vào hạ tầng hàng không Việt Nam
McKinsey: Liên kết kinh tế giữa các nước châu Á ngày càng thắt chặt
Việt Nam giữa thương chiến: Là điểm đến hay chỉ là nơi tránh bão?


"Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình". ---- Socrates - Triết gia

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 89 tháng 10.2020

 Số 89 tháng 10.2020

Bao Forbes Vietnam so 74
 
  • - DANH SÁCH 10 NGÂN HÀNG KINH DOANH HIỆU QUẢ NHẤT

    Các ngân hàng tư nhân năng động chiếm tỉ lệ áp đảo và xuất hiện ở các vị trí dẫn đầu.

  • - HÀNH TRÌNH CHINH ĐÔNG

    Đặt ưu tiên hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững, ông Trịnh Văn Tuấn xây dựng ngân hàng Phương Đông theo một lối riêng.

  • - THÀNH TỰU HAI THẬP NIÊN XÂY NỀN

    Nhiều năm ở chiếu dưới, Manulife Việt Nam vươn lên dẫn đầu thị phần bảo hiểm khai thác mới.

  • ĐƯỜNG ĐẾN SIÊU ỨNG DỤNG

    Có trong tay 20 triệu người dùng, MoMo đặt mục tiêu 50 triệu khách hàng và thành siêu ứng dụng.

  • - SỰ TRỞ LẠI CỦA “NGƯỜI CŨ”

    Ông Huỳnh Thanh Phong dẫn dắt FWD, gương mặt mới trong làng bảo hiểm, nhanh chóng phát triển.

  • - PHỎNG VẤN: TÌM KIẾM TRẢI NGHIỆM VƯỢT TRỘI

    Thực trạng, cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số của ngân hàng theo quan điểm lãnh đạo ngân hàng VIB.

  • - DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT SINGAPORE