Luật về đầu tư nước ngoài được ban hành sớm hơn luật công ty (tư nhân trong nước) gần một thập kỷ, còn khu vực kinh tế quốc doanh được “nuông chiều” ra sao là điều không cần bàn cãi. Đương đầu với khó khăn, thử thách góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt của kinh tế tư nhân. Nếu các nhà hoạch định chính sách kiên quyết ban hành các thể chế coi khối “tư nhân và tư hữu” như con tin của nền kinh tế, khi đó chúng ta có cơ sở để mong đợi về “tầm nhìn kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới” trở thành hiện thực. 

HÀNH TRÌNH ĐỦ DÀI. Tháng 3.2019, lần đầu tiên Việt Nam có năm tỉ phú theo danh sách tỉ phú năm 2019 của Forbes. Báo chí trong nước đồng loạt đăng tên năm tỉ phú như một nhìn nhận tính chính danh cho sự làm giàu của giới doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Tổng tài sản của năm tỉ phú chính thức được tạp chí Forbes liệt kê lên đến 13,6 tỉ USD.

Mặc dù vậy, năm doanh nhân này không hoàn toàn đại diện cho doanh nghiệp tư nhân, vì các công ty tư nhân Việt Nam nhìn chung vẫn là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ.


“Tư nhân và tư hữu” cần được xem như “con tin” của nền kinh tế - ảnh 1

Theo con số chính thức (tính đến 31.12.2017) được bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố trong Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam phát hành tháng 6.2019, khu vực kinh tế tư nhân có 541.753 doanh nghiệp, hầu hết là nhỏ, chỉ có 1% là lớn. Năm nhà tỉ phú trên nằm trong số 1% này.

Thật ra, đối với Việt Nam, tất cả những gì nói về tư nhân và tư hữu đều có ý nghĩa.

Hơn 30 năm trước, tại đại hội Đảng lần 6 (1986), lần đầu tiên trong thể chế kinh tế tư nhân được xác định. Mãi đến 31 năm sau, tại hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3.6.2017 về phát triển kinh tế tư nhân mới được thông qua.

Trong đó, vai trò của kinh tế tư nhân được ghi nhận là “động lực quan trọng” của nền kinh tế. Hành trình của hai chữ “quan trọng” này xuất hiện trong các văn bản chính thức mang tính chủ trương định hướng phát triển kinh tế của đất nước phải mất hơn 30 năm. Trước đây thành phần kinh tế tư nhân chỉ được nhắc đến là “động lực của nền kinh tế”.

Thực tế cho thấy, phát triển kinh tế tư nhân là một chặng đường dài và không hề đơn giản. Quy trình làm luật theo nghị quyết, dù nỗ lực vẫn không theo kịp thực tế. Trong 30 năm chờ đợi sự ghi nhận vai trò động lực quan trọng, cộng đồng doanh nghiệp tư nhân đối mặt với không ít khó khăn.

Riêng năm 2018, có tới 48% doanh nhiệp tư nhân bị thua lỗ; 90.651 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì thiếu vốn, trong đó có 18.795 doanh nghiệp chờ giải thể. Đây có thể nói là “vết thương” của nền kinh tế mới nổi.

Ngoài các nguyên nhân chủ quan đến từ doanh nghiệp, vai trò của nhà nước cũng có ảnh hưởng nhất định trong tháo gỡ khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính. Hầu hết các hội nghị về kinh tế tư nhân có chủ đề dành cho thành tựu, nhưng chưa hề có một chủ đề bàn luận về thất bại, để nghe tiếng nói của các doanh nghiệp đã từ bỏ cuộc chơi.

ĐỐI CHIẾU CHO SỰ CÔNG BẰNG. Nếu chỉ căn cứ vào chủ trương, chính sách và luật, các nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức quốc tế đều ghi nhận sự thay đổi tích cực về định hướng phát triển doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, khi đặt trên bàn cân với khu vực quốc doanh và đầu tư nước ngoài, khoảng cách dường như “không chịu thu hẹp.”

Lưu ý rằng, luật về đầu tư nước ngoài được ban hành sớm hơn luật công ty (tư nhân trong nước) gần một thập kỷ. Còn khu vực kinh tế quốc doanh được “nuông chiều” ra sao là điều không cần bàn cãi. Dù sao, nhờ nỗ lực hoàn chỉnh hành lang pháp lý các công ty tư nhân nhỏ hiện nay có thể tiếp cận các nguồn tài nguyên như đất đai, tín dụng một cách dễ dàng hơn so với trước.


"Kinh tế Việt Nam như một người đang bơi khi hồ còn đầy nước – tức là dòng vốn đầu tư nước ngoài – nên không ai thấy nguy cơ “phơi nhiễm” cho những vi rút hiểm nghèo."

Lưu ý rằng, luật về đầu tư nước ngoài được ban hành sớm hơn luật công ty (tư nhân trong nước) gần một thập kỷ. Còn khu vực kinh tế quốc doanh được “nuông chiều” ra sao là điều không cần bàn cãi. Dù sao, nhờ nỗ lực hoàn chỉnh hành lang pháp lý các công ty tư nhân nhỏ hiện nay có thể tiếp cận các nguồn tài nguyên như đất đai, tín dụng một cách dễ dàng hơn so với trước.

Trên thực tế, các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thuế, giao dịch qua biên giới hoặc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán tuy đã cải thiện dần nhưng vẫn còn chưa thông thoáng nếu so với các nước trong khu vực.

Đương đầu với khó khăn, thử thách góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt của kinh tế tư nhân. Điều này khiến cho các ghi nhận về mức độ đóng góp thông qua các chỉ số về việc làm, thuế của khu vực kinh tế tư nhân tăng thêm ý nghĩa.

Xét về đóng góp trong cung ứng việc làm, khu vực tư nhân có 17,5 triệu tỉ đồng vốn, 11,7 triệu tỉ đồng doanh thu, đã đạt 291.600 tỉ đồng lợi nhuận, tạo 8,8 triệu công việc. Trong khi đó, khu vực nhà nước đạt 9,5 triệu tỉ đồng vốn, với tổng doanh thu 3,1 triệu tỉ đồng, 200.900 tỉ đồng lợi nhuận, chỉ tạo 1,2 triệu công việc.

Tính trung bình nhà nước cần hơn ba đồng vốn mới tạo được một đồng doanh thu, tư nhân chỉ cần một nửa, nghĩa là 1,5 đồng vốn đã tạo được một đồng doanh thu. Cứ hai tỉ đồng vốn tư nhân tạo được một công ăn việc làm, nhưng phải cần bốn lần, tức tám tỉ vốn đầu tư nhà nước mới tạo ra một công việc.

Tư nhân tạo công ăn việc làm gấp 7,3 lần nhà nước, nhưng phải cần 60 đồng đầu tư mới có được một đồng lợi nhuận, tỉ lệ lợi nhuận quá thấp để có thể đầu tư sản xuất và có lợi nhuận tái đầu tư sản xuất. Nghịch lý là tỉ lệ đóng góp vào thuế của khu vực tư nhân chiếm đến hơn 41%, cao hơn tỉ lệ đóng góp của các khu vực khác.

KHI NƯỚC RÚT ĐI… Trong một bài viết đăng trên East Asia Forum ngày 21.7.2019, tác giả David Dapice, một chuyên gia kinh tế của Harvard Kennedy School cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang tiềm ẩn nhiều rủi ro chiến lược sâu bên dưới làn nước trong xanh của tăng trưởng hiện nay.

Ông trích lại câu nói nổi tiếng của tỉ phú Warren Buffett: “Chỉ khi nước rút đi mới biết bạn không mặc đồ bơi,” để ngụ ý rằng “kinh tế Việt Nam như một người đang bơi khi hồ còn đầy nước – tức là dòng vốn đầu tư nước ngoài – nên không ai thấy nguy cơ “phơi nhiễm” cho những vi rút hiểm nghèo. Ý ông muốn nói nếu vốn nước ngoài ra đi, thì liệu nền kinh tế Việt Nam sẽ chống đỡ ra sao?

Hai khu vực tiềm ẩn rủi ro nhất đều liên quan khu vực tư nhân. Đóng góp vào thành tựu xuất khẩu, một phần lớn đến từ công nghiệp chế tác hàng xuất khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp FDI, trong khi doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia rất ít vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kinh tế tư nhân trong nước chỉ đóng góp 30% xuất khẩu, so với 70% của khu vực FDI.


Tính trung bình, nhà nước cần hơn 3 đồng vốn tạo được 1 đồng doanh thu, tư nhân chỉ cần 1,5 đồng đã tạo được 1 đồng doanh thu. Cứ 2 tỉ đồng vốn, tư nhân tạo được một công ăn việc làm nhưng phải cần 8 tỉ đồng đầu tư, nhà nước mới tạo ra 1 công việc.

Theo David, một người nghiên cứu kinh tế Việt Nam từ những năm mới mở cửa, Việt Nam đang hưởng lợi khi các doanh nghiệp có vốn FDI dịch từ Trung Quốc sang do “giá nhân công Trung Quốc tăng” và các căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc với Mỹ.

Giống như dòng nước, dòng vốn luôn tìm chỗ trũng lợi nhuận tốt nhất mà chảy đến. Người Mỹ biết rõ hơn ai hết điều đó và không có gì ngạc nhiên nếu họ “chuyển mũi súng thuế quan lên những hàng hóa Việt – gốc – Trung”.

Theo tính toán của chuyên gia này, hiện nay bình quân mỗi tháng 1,5 tỉ USD vốn FDI chảy vào Việt Nam, nhờ vậy thất nghiệp trong nước giảm và tăng trưởng thậm chí gần mức 7%. Vì vậy nếu dòng vốn FDI chậm lại, sự thiếu hiệu quả và sự yếu kém của khu vực tư nhân sẽ bộc lộ, khó có thể gánh thêm trọng trách nặng nề.

Khu vực kinh tế tư nhân đang góp trên 40% GDP. Theo dự báo của ngân hàng Thế giới, 20 năm nữa kinh tế tư nhân sẽ đóng góp khoảng 80% cho nền kinh tế. Rõ ràng, cần có nỗ lực lớn để đạt được điều này.

Hiện nay có thể xem đây là giai đoạn chuyển đổi quyết liệt, khi Việt Nam đã gần như hội nhập với tất cả các nền kinh tế trên khắp thế giới, sân chơi mới với luật chơi mới. Chúng ta cần đầu tư đúng mức cho “động lực quan trọng” này. Sức khỏe của nền kinh tế sẽ dần lệ thuộc nhiều hơn với kinh tế tư nhân.

Hiện nay, một số lĩnh vực đã thể hiện điều đó. Nếu nhìn ở góc độ tích cực chúng ta sẽ thấy được sự đóng góp của một số công ty, tập đoàn vào ngân sách, thuế, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động.

Bên cạnh đó cũng phải suy nghĩ đến các rủi ro nếu quá phụ thuộc vào một nhóm dạng quá-lớn-để-sụp-đổ khi hành lang pháp lý vẫn chưa xác lập đầy đủ không gian phát triển, tạo ra các kẽ hở trong quản lý nhà nước và năng lực phát triển của doanh nghiệp.

Các vấn đề đang tồn tại về quản lý đất đai, môi trường, sự minh bạch, cải cách hành chính, hành lang pháp lý và thực thi pháp luật… đang là nỗi bức xúc của toàn xã hội, vẫn chưa thể giải quyết được trong một ngày, một tháng và có thể kéo dài hàng năm gây trở ngại cho sự phát triển.

Sự thiếu minh bạch, thiếu công bằng thể hiện khá rõ rệt, biểu hiện cụ thể qua sự tồn tại của nhiều nhóm lợi ích, qua vô số các tiêu cực trong quản lý nhà nước khiến “lòng tin” của người dân vào thể chế thị trường trong công cuộc đổi mới và hội nhập bị sứt mẻ khá nhiều.

Nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ là một thách thức quan trọng đối với kinh tế tư nhân khi chúng ta đã hoàn toàn mở cửa cho sân chơi toàn cầu. Lợi ích của phát triển ngắn hạn và dài hạn cần phải đặt hài hòa trong lợi ích phát triển mang tính bền vững của cả một quốc gia.

Nếu các nhà hoạch định chính sách kiên quyết ban hành các thể chế thích hợp cho các công ty tư nhân phát triển, và từ bỏ lề thói xin cho, coi khối “tư nhân và tư hữu” như con tin của nền kinh tế, khi đó, chúng ta mới có cơ sở để mong đợi về “tầm nhìn kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới” trở thành hiện thực. 

(*) Tựa theo bản in "Thể chế và kinh tế tư nhân", tạp chí Forbes Việt Nam, số 76, tháng 9.2019

Đọc thêm >>>
Doanh nghiệp gia đình: Vẫn còn quá sớm!
Doanh nghiệp Việt trước thách thức chuỗi giá trị
Việt Nam giữa thương chiến: Là điểm đến hay chỉ là nơi tránh bão?
Căng thẳng thương mại khiến DN phải xác định lại chuỗi cung
Trong cách CMCN 4.0, tốc độ sáng tạo mới quyết định thành công