Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không có nhiều dư địa để đẩy lãi suất cho vay xuống thấp nhiều chừng nào chênh lệch tiền gửi ngắn hạn/trung và dài hạn còn cao. Điều NHNN có thể hy vọng là kênh trái phiếu doanh nghiệp sẽ chia sẻ bớt gánh nặng cho ngân hàng thương mại trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp.

NGÀY 13.9, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TUYÊN BỐ giảm một số loại lãi suất điều hành 0,25%/năm từ ngày 16.9. Các loại lãi suất điều hành được giảm bao gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.

Phần lớn các chuyên gia phân tích đều cho rằng đây là một động thái mang “liệu pháp tâm lý” và không mấy tác động đến mặt bằng lãi suất cho vay. Điều này có lý lẽ vì các loại lãi suất này không trực tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại. Đây là các loại lãi suất mang tính kỹ thuật, chủ yếu tác động đến chi phí vốn của ngân hàng khi thiếu hụt vốn.

Trong giai đoạn căng thẳng thanh khoản mấy năm trước thì nó có tác động bình ổn tâm lý thị trường hiệu quả. Đối với một vài ngân hàng yếu kém, đây cũng có thể là một tin mừng vì khi cần họ có thể cần hỗ trợ qua các kênh vốn này với chi phí rẻ hơn. Tuy nhiên, với đa số các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện tại, họ lại không quá cần thiết sử dụng các công cụ này. Trong khi đó, lãi suất tiền gửi trung và dài hạn đang trong tình thế chực chờ tăng.

Bài toán khó của việc giảm lãi suất cho vay ở Việt Nam - ảnh 1

Theo ông Nguyễn Hoàng Minh – phó giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM, cơ cấu tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng hiện nay đang có sự mất cân đối về kỳ hạn. Tỉ lệ vốn huy động ngắn hạn đang chiếm 78% trong khi vốn huy động trung và dài hạn chỉ chiếm 22%. Vì vậy, các ngân hàng thương mại đang cần vốn trung và dài hạn, nhất là sau khi NHNN siết lại việc sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

Những mức lãi suất chính sách mà NHNN vừa hạ không được sử dụng thường xuyên và không có tác động trên diện rộng đến đa số các ngân hàng thương mại, cũng không giúp cải thiện tình hình mất cân đối giữa tỷ lệ vốn cho vay dài hạn so với vốn huy động dài hạn. Do đó nhiều khả năng sẽ không thể hạ được mặt bằng lãi suất huy động. Mà nếu mặt bằng lãi suất huy động không thể hạ, liệu NHNN có cách nào để hạ mặt bằng lãi suất cho vay?

Những động thái gần đây của NHNN khi diễn ra chạy đua lãi suất huy động cho thấy NHNN chỉ có thể áp dụng biện pháp hành chính là tuyên bố sẽ xử lý nặng các ngân hàng chạy đua tăng lãi suất huy động. Một công cụ hành chính khác NHNN cũng có thể dùng là áp đặt trần lãi suất cho vay. Tuy nhiên, đây là những công cụ mà chưa đến thời điểm khẩn cấp, NHNN có lẽ sẽ không dùng đến.

Nói cách khác, NHNN có thể nỗ lực sử dụng công cụ hành chính để chặn phần nào những đợt chạy đua lãi suất của các ngân hàng thương mại và hy vọng nhu cầu vốn trong nền kinh tế ổn định. Tuy nhiên, hạ mặt bằng lãi suất cho vay là không dễ dàng, trừ khi NHNN sử dụng đến chiếc đũa thần là tìm kiếm sự đồng thuận hỗ trợ của các ngân hàng thương mại mà Nhà nước nắm sở hữu lớn. Cho dù như vậy, nguy cơ “phá rào” từ các tổ chức tín dụng có chênh lệch tỷ lệ huy động ngắn hạn/dài hạn cao vẫn tồn tại, như chúng ta đã từng thấy trong quá khứ.

Nói chung, hạ lãi suất cho vay dài hạn trong nền kinh tế Việt Nam hiện tại là không dễ dàng. NHNN có thể dùng những công cụ kỹ thuật như lãi suất chiết khấu, thị trường mở để hỗ trợ vốn cho ngân hàng, giảm đi chi phí vốn ngắn hạn cho họ như một củ cà rốt, đổi lại ngân hàng thương mại chấp nhận một mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và tiết kiệm thấp hơn.

Tuy nhiên, không dễ gì ngân hàng thương mại chấp nhận “chịu thiệt” và khi đó công cụ hành chính sẽ được sử dụng như một cây gậy để đảm bảo thị trường trong kiểm soát của NHNN. Nhưng cây gậy và củ cà rốt này không thể sử dụng quá nhiều. Điều đó có nghĩa là NHNN không có nhiều dư địa để đẩy lãi suất cho vay xuống thấp nhiều chừng nào chênh lệch tiền gửi ngắn hạn/trung và dài hạn còn cao. Điều mà NHNN có thể hy vọng là kênh trái phiếu doanh nghiệp sẽ chia sẻ bớt gánh nặng cho ngân hàng thương mại trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, gần đây Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã chỉ đạo “chấn chỉnh” thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau việc một số doanh nghiệp bất động sản đẩy lãi suất trái phiếu lên trên 14%/năm. Điều này dẫn đến lo ngại nếu siết việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp quá chặt thì nền kinh tế lại thiếu vốn trung và dài hạn.

So với nước láng giềng Thái Lan đang cần kích thích kinh tế để tránh đổ vỡ hàng loạt của doanh nghiệp do tăng trưởng ở dưới 2,5% thì Việt Nam ở một trạng thái khác hẳn vào lúc này. Tăng trưởng khả quan thì doanh nghiệp và người dân vẫn sẽ sẵn sàng vay vốn làm ăn.

Mặt khác, giá vàng tăng lại khiến cho người dân sẽ đòi hỏi một mức lãi suất tiết kiệm hấp dẫn hơn để tiền nhàn rỗi không đổ vào nắm giữ vàng. Cộng với những yếu tố đã phân tích ở trên thì e rằng mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế có lẽ khó mà giảm trong mấy tháng cuối năm nay và kể cả những tháng đầu năm sau. Mà đó cũng là lẽ bình thường ở một nền kinh tế đang tăng trưởng có vẻ khá tốt.

Hiện tại tình hình kinh tế toàn cầu đang diễn biến phức tạp với thương chiến Mỹ – Trung, Brexit ở châu Âu, xung đột chính trị ở nhiều điểm nóng trên thế giới có thể tác động đến giá dầu và lạm phát. Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở cao, chắc chắn sẽ bị tác động bởi những diễn biến khó lường này.

Nếu NHNN vội vã trong chính sách lãi suất hay tỷ giá vào lúc này, nếu có một diễn biến bất ngờ làm đảo chiều mọi dự đoán thì NHNN lại có thể rơi vào thế “việt vị”. Vì vậy, ở thời điểm này, NHNN không có áp lực phải vội vã hành động, và có lẽ họ cũng không cần hành động gấp rút mà cần chừa lại dư địa chính sách để phản ứng khi có “bão” lớn bất ngờ nổi lên. 

Tiến sĩ Hồ Quốc Tuấn là giảng viên đại học Bristol, Anh.


(*) Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam, số 77 tháng

Đọc thêm >>>
Thương mại Mỹ - EU: Cuộc chiến lớn ít được chú ý
Mỹ dự định áp thuế lên 7,5 tỉ USD hàng hóa châu Âu
McKinsey: Liên kết kinh tế giữa các nước châu Á đang ngày một thắt chặt
Việt Nam giữa thương chiến: Là điểm đến hay chỉ là nơi tránh bão?
Ấn Độ và Philippines sẽ vượt Trung Quốc trong 10 năm tới