Đà Lạt Hasfarm trồng hoa với doanh số trên diện tích canh tác cao gấp 50 lần mức trung bình của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Người trồng hoa ở Đà Lạt Hasfarm: Hoa từ trái tim Việt - ảnh 1

18 năm ở Đà Lạt, đủ để Bernhard Schenke nói tiếng Việt với đồng nghiệp và gia đình vợ. 

Chiếc máy cày chất đầy hoa ở thùng sau chạy từ khu nhà kính lên nhà phân loại hoa giữa hai hàng tùng xanh ngắt. Ở đó, những nụ hồng, lily, cúc được làm mát, tỉa lá, cắt cành, rồi vào phòng lạnh, đóng hộp, chờ ngày lên đường sang các nước như Nhật, Úc, Đài Loan. Trên mỗi chiếc hộp giấy bìa, có dòng chữ tiếng Anh “Hoa từ trái tim Việt Nam.”

Trái tim 20 tuổi đó đã không ngừng phát triển, từ một héc ta nhà kính ban đầu nay đã lên tới 80 héc ta, cho ra thị trường 120 triệu cành hoa, 1,7 triệu hoa chậu và 230 triệu cây con vào năm 2013. Từ một nông trại ban đầu ở trên đường Nguyên tử lực (TP Đà Lạt), nay Đà Lạt Hasfarm có thêm hai nông trại ở Đạ Ròn và Đa Quý.

Không chỉ phát triển vùng canh tác trong nước, Đà Lạt Hasfarm còn mở rộng ra nước ngoài sau khi mua lại doanh nghiệp trồng hoa Taikoo ở Côn Minh, Trung Quốc và công ty phân phối Greenwings ở Nhật Bản. “Hồi đầu, tôi có thể nhớ và gọi tên từng người, còn giờ thì chịu,” ông Bernhard Schenke, phó tổng giám đốc nói rành rọt bằng tiếng Việt về đội ngũ từ 12 người ban đầu nay lên tới 2.000 người của Đà Lạt Hasfarm.

Khi người sáng lập và cũng là tổng giám đốc Thomas Hooft nghỉ hưu vào cuối tháng 12.2012, ông Bernhard Schenke trở thành người nước ngoài có thâm niên nhất ở Đà Lạt Hasfarm.

Thomas Hooft đặt chân đến Đà Lạt năm 1993, đúng 100 năm kể từ ngày bác sĩ người Pháp Yersin khám phá ra vùng đất cao nguyên này. Với mục đích tìm nơi thích hợp để lập nông trại trồng hoa nhắm tới thị trường châu Á, Hooft khảo sát nhiều nơi và cuối cùng nhận ra Đà Lạt là nơi thích hợp. Trong kỷ yếu 40 năm quan hệ Việt – Hà Lan, ông viết: “Tôi đã rảo bước khắp châu Á để tìm một nơi thích hợp cho việc trồng hoa. Năm 1993 tôi đến Ðà Lạt và tôi biết rằng tôi đã tìm được nơi ấy.” 

Người trồng hoa ở Đà Lạt Hasfarm: Hoa từ trái tim Việt - ảnh 2

Khởi đầu với số vốn 700.000 đô la Mỹ, Hooft bắt đầu gầy dựngĐà Lạt Hasfarm từ một héc ta nhà kính trồng hoa. Do đặc điểm khí hậu Đà Lạt, hoa trồng trong nhà kính không tốn nhiều năng lượng cho sưởi ấm như nông trại ở Côn Minh, Trung Quốc. Bên cạnh lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng, Đà Lạt còn có ưu thế về nhân công và kỹ thuật. Hooft viết: “Người Việt, theo tôi, là những công nhân hàng đầu, với tinh thần trách nhiệm cao và nhiều tham vọng. Ở đây bạn có thể dễ dàng chuyển giao công việc cho họ.”

Cả Thomas Hooft và Bernhard Schenke đều sinh trưởng và lớn lên ở Hà Lan, một đất nước có nền khoa học nông nghiệp phát triển ở châu Âu. Họ từng lăn lộn trong các nông trại hoa ở Indonesia hơn 10 năm trước khi đến Việt Nam. Thông qua các mối quan hệ trong hiệp hội hoa quốc tế, cả hai đều hiểu Đà Lạt Hasfarm muốn phát triển phải thâm nhập những thị trường chính như Nhật và Úc.

Ông Schenke kể, người Hà Lan rất muốn xuất khẩu hoa sang Nhật nhưng trong thập niên 1970 thị trường đó được bảo vệ kỹ càng bằng hàng rào kỹ thuật như vệ sinh dịch tễ, kiểm soát chất độc hại, dư lượng thuốc kháng sinh. Ông cho hay, tới đầu thập niên 1980, phía Hà Lan phải mời chuyên gia Nhật sang giám sát quy trình từ chọn giống, trồng, chăm sóc cho tới xử lý sau thu hoạch để từng bước thâm nhập thị trường.

Kinh nghiệm của hoa Hà Lan khi thâm nhập thị trường Nhật giúp ích rất nhiều cho các nhà sản xuất hoa ở Đông Nam Á. Từ đầu thập niên 1990, hoa từ Côn Minh, Trung Quốc cũng xuất được sang Nhật. Sau hai năm thăm dò thị trường Hồng Kông, Thái Lan, năm 1996, Đà Lạt Hasfarm bắt đầu xuất hoa sang thị trường Nhật qua nhà phân phối Greenwings.

Cũng là nhà kính, nhưng tùy theo thiết bị và yêu cầu mà suất đầu tư sẽ khác. Như Đà Lạt Hasfarm sử dụng nhà kính của Pháp, công nghệ tưới của Israel, một mét vuông nhà kính cần tới 50 đô la Mỹ. Ông Schenke nói: “Chúng tôi hiểu rằng, thử thách cũng là cơ hội. Đặt ra yêu cầu cao, nếu đáp ứng được, bạn sẽ có cơ hội ở thị trường lớn.” Sau khi đáp ứng được hàng rào kỹ thuật, họ sẽ đánh giá năng lực sản xuất, khả năng cung ứng.

Từ năm 1996 tới nay, Nhật luôn là thị trường tiêu thụ chính ở nước ngoài của

Đà Lạt Hasfarm, chiếm 65% sản lượng. Sau khi vào được thị trường khó tính nhất, cánh cửa vào thị trường khác như Úc, Đài Loan, rồi mới đây là Nga cũng lần lượt mở ra với hoa của Đà Lạt Hasfarm. Sau Nhật, các thị trường xuất khẩu chính của họ lần lượt là Úc, Đài Loan, Trung Quốc.

Một bất ngờ khác với hai nhà kinh doanh đến từ Hà Lan là thị trường trong

Người trồng hoa ở Đà Lạt Hasfarm: Hoa từ trái tim Việt - ảnh 3

nước. Ông Schenke nhớ lại, mục đích ban đầu khi đầu tư vào Đà Lạt là nhắm tới thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, ông Hooft cũng nhận ra, người Việt Nam rất yêu hoa và thị trường lại không có nhà sản xuất đầu tư quy mô từ khâu giống cho tới canh tác, chăm sóc và thu hoạch như Đà Lạt Hasfarm, chưa kể nhờ nguồn giống nhập khẩu từ Hà Lan, sản phẩm của họ đa dạng về màu sắc, chủng loại, để người dùng có thể chọn lựa, tùy theo thị hiếu.

Như người tiêu dùng trong nước thích sắc vàng, còn ở Nhật, thị hiếu chuộng màu hồng, vàng. Có lẽ vì vậy mà ông Hooft nhận xét: “Người Việt yêu hoa, Hà Lan thì nổi tiếng về hoa nên chúng tôi có lợi thế của sản phẩm được nhiều người biết và mến chuộng. Bây giờ chúng tôi là nhà sản xuất hoa lớn nhất Đông Nam Á.”

Danh hiệu ấy không phải do họ tự phong mà đến từ bình chọn của tạp chí Flowers Tech, Mỹ. Từ một héc ta ban đầu, họ mở rộng ra ba địa điểm, với 300 héc ta. Trong đó, có 80 héc ta nhà kính. Năm 2013, doanh thu đạt 60 triệu đô la Mỹ, theo ông Schenke. Con số này xem ra lọt thỏm trong doanh số xuất khẩu tính bằng tỉ đô la Mỹ của lúa hay thủy sản. Nhưng nếu tính trên diện tích đất canh tác, một héc ta ở nông trại hoa mang lại doanh số mỗi năm khoảng 200 ngàn đô la Mỹ, cao hơn 50 lần so với mức trung bình của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Để trở thành “lựa chọn hàng đầu về sản phẩm hoa, cây cảnh,” theo ông Schenke, bên cạnh cam kết về chất lượng thông qua đầu tư vào công nghệ, phát triển sản phẩm, họ luôn quan tâm tới môi trường, cũng như đòi hỏi ngày càng cao của người dùng.

Giám đốc sản xuất nông trại tại Đà Lạt của Hasfarm, ông Nguyễn Trọng Phu cho biết, hiện tại nhà kính trồng hoa hồng đã áp dụng công nghệ thu gom nước tưới để tái sử dụng và dự kiến sang năm, khu trồng chậu sẽ được áp dụng công nghệ này. Không chỉ mở rộng sản xuất ở Việt Nam, Đà Lạt Hasfarm còn nhắm tới vùng trồng hoa ở Côn Minh, Trung Quốc. Năm 2010, sau 14 năm hợp tác, họ mua lại doanh nghiệp phân phối Greenwings ở Nhật.

Người trồng hoa ở Đà Lạt Hasfarm: Hoa từ trái tim Việt - ảnh 4

 Chăm sóc hoa ở Đà Lạt Hasfarm.

Ông Schenke giải thích: “Nhật là một trong những thị trường xuất khẩu chính và rất quan trọng với công ty. Vì thế, việc mua lại Greenwings trong năm 2010 giúp chúng tôi giữ được đầu ra ở thị trường này trong tương lai lâu dài.” Sâu xa hơn, trong chuỗi giá trị tính trên doanh số theo tính toán của Von Heereman công bố năm 2006, lợi nhuận của nhà sản xuất chỉ chiếm 4%, trong khi nhà bán lẻ hoặc sỉ chiếm từ 20-30% tùy thị trường.

Kể từ nhà kính đầu tiên của Đà Lạt Hasfarm, Đà Lạt hiện có tới hơn 2.000 nhà kính mà công nghệ đã thay đổi theo lời ông Schenke ví von “như chuyện đi xe đạp 20 năm trước với đi xe hơi lúc bây giờ.”

Không chỉ tự xây dựng vùng sản xuất, Đà Lạt Hasfarm có chương trình hợp tác với nông dân, với hơn 100 hộ tham gia. Ông Phạm Hồng Quyền, người tham gia chương trình trong 10 năm nay cho biết, từ chỗ chỉ tham gia 2 sào (1.000m2/sào) ban đầu, gia đình ông hiện nâng lên 8 sào, trong đó có 1 sào vừa thuê thêm. Ông Quyền nói: “Công ty cung ứng cây giống, đưa cán bộ kỹ thuật hướng dẫn. Sản phẩm làm ra được bao tiêu nên người trồng yên tâm.” Theo ông Quyền, tính trung bình mỗi năm, giá thu mua cao hơn giá thị trường trung bình từ 200-300 đồng/cành. Tỉ suất lợi nhuận từ trồng cúc xuất khẩu, theo ông Quyền, là 30%.

Lời mời đến Việt Nam làm việc từ tổng giám đốc Hooft không ngờ khiến vị cử nhân kinh tế nông nghiệp Bernhard Schenke “bén rễ” ở vùng đất cao nguyên. 18 năm ở Đà Lat đủ để Schenke hiểu và nói tiếng Việt “chút chút” với các đồng nghiệp cũng như với cô vợ người Việt và hai con trai. Thừa nhận đầu tư vào nông nghiệp có những rủi ro về thời tiết, giá thay đổi, song nhà kinh tế nông nghiệp Schenke cho rằng: “Trong nông nghiệp, bạn muốn thành công thì phải là nông dân, chứ không thể là người kinh doanh đơn thuần.”

Điều làm nên sự khác biệt của Đà Lạt Hasfarm, theo nhà kinh doanh 55 tuổi này là “không bao giờ đầu tư mà không có thị trường.” Tuy đặt mục tiêu mỗi năm sắp tới chỉ phát triển 5 héc ta nhà kính, theo Schenke, lượng khách hàng mỗi năm không mất đi mà chỉ tăng thêm. Nhờ vậy, mỗi lúc đêm về, Schenke tự tin nói: “Tối nào tôi cũng ngủ ngon vì tôi biết tôi sẽ bán đi đâu và bán cho ai, với số lượng thế nào.”

(*) Tựa theo báo in: Hoa từ trái tim Việt (tạp chí Forbes Việt Nam số 12, tháng 5.2014)

Đọc thêm >>>
CEO Unifarm Mai Hữu Tín: Làm nông công nghệ cao
Thái Dương nuôi heo thời công nghệ
CEO của Vĩnh Hoàn: Người biến chuyện phức tạp thành đơn giản
Hợp tác giải bài toán sản xuất hộ gia đình nhỏ, lẻ

"Hãy luôn là phiên bản số một của chính mình thay vì biến thành phiên bản hạng hai của người khác". ---- Ca sĩ Judy Garland

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 71 tháng 4.2019

 Số 71 tháng 4.2019

Bao Forbes Vietnam so 70
 
  • - TÌM LỐI ĐI RIÊNG (XÂY DỰNG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÀ PHÊ)
  • - THAM VỌNG TRÁI CÂY VIỆT
  • - THIẾT LẬP MẮT XÍCH MỚI (CHẾ BIẾN RAU CỦ TẠI VIỆT NAM)
  • - CƠN HƯNG PHẤN GIÁ RẺ

Các số báo khác