Sau 15 năm hoạt động, hợp tác xã Nông nghiệp Anh Đào xây dựng được thương hiệu rau, củ, với doanh thu hằng năm trên 200 tỉ đồng. 

Tám giờ sáng, kho hàng của hợp tác xã Nông nghiệp Anh Đào (Lâm Đồng) chỉ còn vài xe tải nhỏ ăn hàng. Khoảng 20 người đang phân loại rau, củ chuẩn bị cho ngày hôm sau. 12 chiếc xe đông lạnh của hợp tác xã, một số rong ruổi trên đường đến kho của siêu thị, chợ đầu mối, số đang quay về.

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, phó giám đốc hợp tác xã cho biết, mùa cao điểm họ phải thuê ngoài mới kịp cung ứng hàng, còn “hàng tươi sống sử dụng xe nhà sẽ giảm thiểu tỉ lệ hao hụt hơn.” Bà Tuyết giải thích thêm: “Do đặc thù ngành rau, vận chuyển phải kèm sọt nhựa, nên thuê xe phải trả hai chiều đi và về. Lúc đi chở rau, lúc về mang sọt, nên chúng tôi tự phát triển đội xe đông lạnh.”

Sau 15 năm hoạt động, từ một đơn vị có bảy xã viên, vốn điều lệ 500 triệu đồng, canh tác trên 20 héc ta đất của xã viên, Anh Đào từng bước mở rộng diện tích lên 280 héc ta đất, nhờ thu hút thêm 12 xã viên và thuê đất sản xuất. Năm 2017, hợp tác xã cung ứng hơn 42 ngàn tấn rau, củ thuộc 35 chủng loại ở 52 tỉnh thành, qua các hệ thống siêu thị của Sài Gòn Co.op, Aeon, Vinmart, nhà hàng, chợ. Trong 210 tỉ đồng doanh thu năm 2017, bà Tuyết cho biết: “80% doanh số từ thị trường trong nước, còn lại là xuất khẩu.”

Hợp tác giải bài toán sản xuất hộ gia đình nhỏ, lẻ - ảnh 1

Vùng canh tác của Anh Đào ở Lạc Dương dựa trên đất thuê của nhà nước. Ảnh: Phan Quang

Anh Đào nằm trong nhóm 80% hợp tác xã trên cả nước làm ăn có lãi. Theo báo cáo tổng kết của cục quản lý Hợp tác xã (bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), trong số 6.946 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản, có 17,3% hòa vốn, 10,1% thua lỗ. Nếu như doanh thu bình quân năm 2016 của mỗi hợp tác xã trong số 19.500 hợp tác xã trên toàn quốc, theo bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng là ba tỉ đồng, thì Anh Đào vượt gấp gần 70 lần. Doanh thu năm 2016 của họ đạt 200 tỉ đồng. Đâu là bí quyết để một hợp tác xã có doanh thu ổn định, “có thương hiệu để mình có thể tìm khách hàng, hoặc người ta tự tìm tới mình,” như lời kể của bà Tuyết?

Lợi thế ban đầu của Anh Đào là họ hình thành ở Đà Lạt. Bên cạnh điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp để phát triển vùng chuyên canh rau, củ, Đà Lạt còn cách trung tâm tiêu thụ lớn là TP.HCM sáu giờ chạy xe. Điều này giúp Anh Đào có thể tìm được đầu ra ổn định, một lợi thế quan trọng để hình thành và phát triển hợp tác xã.

Theo bà Ánh Tuyết, xuất phát từ nhu cầu bảo đảm nguồn hàng tiêu thụ ổn định về số lượng, chủng loại, nông dân buộc phải liên kết với nhau. “Đây là động lực ban đầu,” bà Tuyết nói về sự ra đời của Anh Đào tháng 8.2003. Trong bảy xã viên sáng lập có ông Nguyễn Công Thừa, giám đốc hợp tác xã hiện giờ, người có kinh nghiệm về “kinh doanh rau quả,” theo lời ông Nguyễn Văn Lâu, 64 tuổi, quản lý khu sản xuất 38 héc ta của Anh Đào ở Lạc Dương, Lâm Đồng.

Sau ba năm hoạt động, Anh Đào ký được hợp đồng với hệ thống siêu thị Co.op Mart. Để đủ sản lượng cung ứng, ngoài việc mở rộng số lượng xã viên, họ thuê 70 héc ta đất của nhà nước. “Điều này giúp cho hợp tác xã có thể chủ động về sản lượng và có thể thiết lập quy trình sản xuất chặt chẽ hơn với xã viên,” bà Tuyết nhận định. Nhờ vậy, khi các khách hàng mở rộng địa bàn kinh doanh, cần thêm nguồn hàng, hợp tác xã có thể cung ứng.

Anh Đào phát triển cùng với sự mở rộng của chuỗi siêu thị Co.op Mart. Hiện nay, hệ thống Co.op Mart lên tới 96 siêu thị trên toàn quốc, trong đó có 22 siêu thị ở miền Trung và miền Bắc. “Đội xe của hợp tác xã chuyên chở đến tổng kho của Co.op Mart đặt ở Bình Dương, còn các siêu thị ở phía Bắc và miền Trung, chúng tôi chuyên chở trực tiếp,” bà Tuyết nói.

Để xã viên an tâm sản xuất, hợp tác xã chịu trách nhiệm về quy trình và kế hoạch sản xuất, kiểm tra quy trình, lo đầu ra và khâu vận chuyển. Trong đó, quan trọng nhất là đầu ra. “Khi bảo đảm đầu ra, xã viên mới mạnh dạn đầu tư.” Xã viên không phải bận tâm về lựa chọn cây giống, loại thuốc hay đầu ra thế nào, lại có thu nhập ổn định. Do hợp tác xã có thể đàm phán giá bán cố định trong sáu tháng, nên giá thị trường có xuống thấp, nông dân vẫn không lo. Nếu giá cao, cuối năm, họ được chia lợi nhuận, “theo tỉ lệ góp vốn và sản lượng đóng ứng sản lượng đóng góp cho hợp tác xã”.

Công thức ăn đồng, chia đủ như vậy giúp cho “xã viên thấy lợi ích lâu dài, gắn bó hơn,” như lời bà Tuyết chia sẻ trước thực tế có nhiều người muốn gia nhập hợp tác xã trong thời gian gần đây. Ngoài ích lợi về đầu ra ổn định, xã viên còn được tập huấn, phổ biến kinh nghiệm, kỹ thuật trồng trọt, hay mua thuốc trong danh mục, rẻ hơn 5% so với giá thị trường, theo thỏa thuận giữa hợp tác xã với các bên cung ứng.

Ngoài chuỗi Co.op Mart, Anh Đào có thêm các khách hàng khác như Aeon, Vinmart, chợ, nhà hàng. Nhu cầu tiêu dùng rau an toàn nói riêng và thực phẩm an toàn nói chung nổi lên buộc các đơn vị sản xuất phải tuân thủ quy trình, kiểm tra nghiêm ngặt. Ngoài việc lựa chọn sản phẩm, quy trình sản xuất, hợp tác xã chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra quy trình sản xuất. Đội ngũ kỹ thuật hiện nay ở Anh Đào vào khoảng 20 người, trong đó phần lớn có trình độ từ cao đẳng trở lên. “Không làm chặt chẽ, chỉ cần siêu thị kiểm tra phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu là tạm ngưng nhập hàng ba tháng,” ông Lâu nói.

Họ được công nhận đạt quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). Theo số liệu của tổng cục Thống kê công bố tháng 10.2017, cả nước có 199 hợp tác xã đạt chuẩn Viet GAP. Trong số gần 1.500 đơn vị được cấp chứng nhận VietGAP, hai nhóm chính là hộ cá thể và nhóm liên kết, mỗi nhóm chiếm khoảng 36%, hợp tác xã chỉ chiếm 13,3%. Trong cơ cấu doanh thu của Anh Đào, theo bà Tuyết, thị trường trong nước chiếm tới 80%, còn lại là xuất khẩu. Từ năm 2013, Anh Đào bắt đầu xuất cải thảo, các loại xà lách đi Hàn Quốc. Hiện tại, mỗi năm họ xuất khoảng 1.200 tấn sang Hàn Quốc.

Vì sao Anh Đào không đẩy mạnh xuất khẩu? Bà Tuyết đưa ra nhiều lý do như đội ngũ kinh doanh chưa đủ mạnh để tìm thị trường xuất khẩu, khả năng đáp ứng sản lượng bị giới hạn do quỹ đất giới hạn.

Hợp tác giải bài toán sản xuất hộ gia đình nhỏ, lẻ - ảnh 2

Trồng xà lách trong nhà lưới mỗi năm có thể thu hoạch 11 vụ. Ảnh: Phan Quang

Một lý do khác, không kém phần quan trọng là chất lượng cao, khó lòng đáp ứng. Bà Tuyết dẫn chứng về xà lách xuất khẩu sang Hàn Quốc trọng lượng mỗi bắp phải từ 3,5 lạng trở lên, trong khi xà lách thường nhập vào siêu thị trong nước ở mức dưới hai lạng. “Thường thì mỗi đơn vị diện tích chỉ đạt khoảng 40%,” bà Tuyết nói. Song bà Tuyết tỏ ra tâm đắc hơn với định hướng “tập trung sản xuất an toàn, chất lượng cho người dùng trong nước.”

Để giải quyết bài toán sản lượng, Anh Đào đang tập trung đầu tư ứng dụng công nghệ, kỹ thuật trồng trọt tiên tiến vào sản xuất như đầu tư nhà kính, nhà màng, áp dụng tưới nhỏ giọt, phun sương hoặc thử nghiệm hai héc ta trồng giá thể. Theo tính toán, suất đầu tư cho một héc ta nhà kính khoảng 2,5 tỉ đồng, còn giá thể có thể tới bảy tỉ đồng. Song khả năng thu hồi vốn hoàn toàn có thể, nếu cơ sở sản xuất có đầu ra ổn định. “Chúng tôi vay bảy tỉ đồng theo chương trình tín dụng của liên minh hợp tác xã trong vòng 5 năm, song thời gian hoàn vốn trên thực tế có thể rút ngắn hơn,” bà Tuyết nói.

Làm ăn có đầu ra ổn định, có thương hiệu, liệu Anh Đào có thể phát triển nhanh và mạnh trong tương lai? Câu hỏi ấy bà Tuyết không trả lời, chỉ cho biết, tuy có một số người sẵn lòng gia nhập nhưng xã viên không muốn mở rộng. Quỹ đất canh tác ở Lâm Đồng cũng khó có thể mở rộng hơn. Ngoài ra, nhân công tuyển vào cũng không dễ. Gần 50 công nhân của Anh Đào ở Lạc Dương, theo ông Lâu, chủ yếu là dân miền Tây, với mức lương trung bình 4,5 triệu đồng/tháng. “Hai vợ chồng làm ở đây, mỗi tháng cũng dư một chỉ vàng,” ông Lâu nói. Đơn giản là điện, nước do hợp tác xã bao tiêu, còn rau thì canh tác tại chỗ.

Theo phân tích của tiến sĩ Đặng Kim Sơn trên Vietnamnet, mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp sẽ giải quyết được bài toán sản xuất nhỏ, lẻ ở quy mô hộ như hiện tại. Tuy nhiên, hợp tác xã đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực có trình độ, từ ban quản lý đến đội ngũ kỹ thuật.

Anh Đào là một trong số ít có ban quản lý là người làm thuê chuyên nghiệp. Ngoại trừ ông Thừa là xã viên sáng lập, giữ chức giám đốc, bà Tuyết và các cán bộ quản lý khác đều là người làm công, hưởng lương. Song cái khó lớn hơn với mô hình hợp tác xã hiện nay, như chuyên gia Đặng Kim Sơn chỉ ra, hợp tác xã khó có thể phát triển mạnh vì không nắm trong tay đất đai, cơ sở hạ tầng. 

(*) Tựa theo bản in: Mô hình hợp tác (tạp chí Forbes Việt Nam số 59, tháng 4.2018)