Mặt bằng giá cổ phiếu hạ xuống thời gian gần đây nên được nhìn nhận như một cơ hội, chứ không phải dấu hiệu của bất kỳ cuộc khủng hoảng nào, Rainer Michael Preiss, chuyên gia phân tích cao cấp tại Taurus Family Office nhận định. 

FED và bài toán lãi suất ở Mỹ

Kể từ đầu năm nay, chứng khoán Mỹ vẫn là thị trường lớn có kết quả hoạt động tốt nhất toàn cầu. Giữa tháng 10, một đợt rớt giá cổ phiếu mạnh đã xảy ra. Xu hướng thị trường giá lên (bull market) tại Mỹ bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt rõ rệt.

Tổng thống Mỹ Donald Trump công khai chỉ trích Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và cáo buộc hành động tăng lãi suất của FED chính là nguyên nhân khiến hiện tượng bán tháo (sell off) diễn ra trên diện rộng. Dù phàn nàn về lãi suất tăng, ông Trump vẫn nói rõ mình sẽ không sa thải chủ tịch FED Jerome Powell. Ông Powell dường như đã nói lời tạm biệt với chính sách nới lỏng định lượng (Quantitative Easing), để chuẩn bị tiến tới chính sách thắt chặt định lượng (Quantitative Tightening).

Chứng khoán trước nỗi lo “thắt chặt định lượng” - ảnh 1

Cuốn sách "The Everything Bubble" của Graham Summers nhìn lại sự hình thành và phát triển của hệ thống tài chính Mỹ, từ khi FED thành lập năm 1913 cho đến hàng loạt bong bóng tài chính, như bong bóng công nghệ trong những năm 1990, bong bóng nhà ở vào đầu những năm 2000 và bong bóng hiện tại của trái phiếu chính phủ Mỹ. Theo tác giả, bởi những trái phiếu này là nền tảng của hệ thống tài chính, nên một khi chúng ở trong tình trạng bong bóng, mọi tài sản rủi ro khác (gần như tất cả) cũng lâm vào tình trạng bong bóng. (Ảnh: The Everything Bubble)

Câu hỏi chung đặt ra cho Tổng thống Mỹ, Cục dự trữ liên bang Mỹ, các nhà đầu tư quốc tế cũng như tại Việt Nam là: liệu FED có đang thực sự chậm trễ trong việc ổn định lãi suất?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xét đến vấn đề lạm phát. Nhiều nhà kinh tế cho rằng cho đến hôm nay, các quốc gia phương Tây không hề có lạm phát giá tiêu dùng, nhưng lại hứng chịu lạm phát giá tài sản không hề nhỏ. Nhiều người gọi tên tình trạng này là "Everything Bubble", tất cả tài sản tài chính đều là bong bóng.

Kinh tế thế giới hiện có mức tăng trưởng khá mạnh mẽ, Mỹ lại được kích thích tài chính nhờ chính sách cắt giảm thuế, tỉ lệ thất nghiệp của quốc gia này cũng dưới mức 4%. Nhìn vào phản ứng dữ dội của ông Trump, những ai chưa tường tận tình hình hẳn sẽ nghĩ FED đang để lãi suất ở mức ngất ngưởng, thấp nhất là 5% đến 6%, thay vì chỉ 2% như hiện tại.

Việc hoạch định chính sách lãi suất của FED càng dễ mất phương hướng, bởi căng thẳng thương mại gia tăng giữa chính quyền Mỹ - Trung cùng những rủi ro chiến thương mại leo thang luôn kề cận.

Tái cơ cấu và những đột phá trong chuỗi cung ứng toàn cầu, kết hợp cùng những đòn thuế ông Trump đánh lên hàng xuất khẩu giá rẻ của Trung Quốc có thể đẩy lạm phát cùng kỳ vọng lạm phát tăng cao. Nhiều người bắt đầu tin “người thắng duy nhất trong chiến tranh thương mại là lạm phát”. Chính vì  vậy, việc FED công khai nỗ lực ổn định lãi suất là một điều vô cùng quan trọng.

Xem thêm: Người thắng duy nhất trong chiến tranh thương mại là lạm phát

Việt Nam sẽ là người chiến thắng?

Cuộc vật lộn để ổn định lãi suất của chính quyền Trump, đi kèm với giá đồng bạc xanh tăng cao đã tạo áp lực lớn lên các thị trường mới nổi (emerging markets) và các thị trường cận biên (frontier markets).

So với thời kỳ khủng hoảng tài chính cuối những năm 1990, hiện nay nhiều quốc gia trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang ổn định với vị thế kinh tế cao hơn nhiều. Nhưng những biến động tại thị trường mới nổi, cùng mâu thuẫn trong thương mại toàn cầu, đã đặt ra nhiều câu hỏi: ai sẽ hứng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, rủi ro lây lan của khu vực sẽ như thế nào và đâu là cách tốt nhất để hạn chế tác động của hiện tượng rút vốn (capital outflow) và sự suy yếu của tiền tệ.

Chứng khoán trước nỗi lo “thắt chặt định lượng” - ảnh 2

Rainer Michael Preiss cho rằng nên nhìn nhận thị trường giá xuống (bear market) hiện tại là cơ hội, chứ không phải là dấu hiệu của khủng hoảng (Ảnh: Getty royalty-free images)

Rủi ro xung đột thương mại toàn cầu gia tăng đang đè nặng lên triển vọng phát triển của các nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, chẳng hạn như như Singapore và Malaysia. Trong khi đó, Indonesia và Philippines lại đang chịu tác động kép từ dư nợ nước ngoài cao và đồng đô la Mỹ tăng giá, khiến việc gọi vốn ngày một trở nên khó khăn. Dù vậy, Việt Nam lại có thể trở thành người chiến thắng giữa dòng chảy địa chính trị hiện tại.

Kinh tế Việt Nam đang phát triển với tốc độ như vũ bão trong tám năm qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ đạt 6,8% năm 2018, 6,6% năm 2019 và 6,6% năm 2020, theo dự báo của Bloomberg. Ngân hàng thế giới nhận định, để mức tăng trưởng trên tồn tại lâu dài, Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần siết chặt thanh khoản, điều chỉnh lãi suất liên ngân hàng theo lãi suất Ngân hàng nhà nước, nhằm đạt được mức tăng trưởng tín dụng phù hợp.

Bất chấp những xáo trộn ở châu Á, sự gần gũi về mặt địa lý cùng sợi dây liên kết mạnh mẽ về kinh tế và chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc đang mang lại những điều tích cực cho đất nước hình chữ S. Sức ép chi phí từ thuế quan thương mại Mỹ đã đẩy các nhà sản xuất Trung Quốc chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi quê nhà, dời sang các địa điểm ít tốn kém hơn ở châu Á, chẳng hạn như Việt Nam hay Bangladesh. Việt Nam cũng đang nhận dòng vốn đầu tư lớn từ các công ty Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.

Nền kinh tế Việt Nam cũng đang trải qua những đợt thay da đổi thịt, cởi mở hơn với các công ty và nhà đầu tư nước ngoài. Các công ty toàn cầu, bao gồm Samsung Electronics Co. và Intel Corp., đã đầu tư vào các cơ sở sản xuất địa phương.

Việt Nam là một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thương mại, với tỷ lệ thương mại trên GDP xấp xỉ 200%. Đất nước sở hữu dân số trẻ và có học vấn, lực lượng lao động vẫn còn rẻ và đang tăng trưởng, là thành viên được hưởng lợi từ nhiều hiệp định thương mại khu vực, và rất gần Trung Quốc. Tất cả những yếu tố này sẽ tiếp tục thu hút dòng vốn FDI mạnh trong những năm tới, và sẽ dẫn tới những đổi thay cơ cấu tích cực đối với thị trường chứng khoán trong nước.

Việt Nam đã nhận được 19,7 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong chín tháng đầu năm, theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư. Nhiều nhà kinh tế kỳ vọng rằng việc tăng cường đầu tư dài hạn vào Việt Nam vẫn sẽ là một sự lựa chọn hấp dẫn, bởi rủi ro chiến tranh thương mại đang đẩy nhanh quá trình "nam tiến" của các cơ sở sản xuất Trung Quốc. Dòng vốn FDI, cộng với việc người tiêu dùng tầng lớp trung lưu đang chi tiêu nhiều tiền hơn với thu nhập cao hơn chính là tín hiệu tích cực cho thị trường cổ phiếu Việt Nam.

Tuy vậy, trái ngược với những yếu tố khả quan kể trên, chỉ số VN-Index đã giảm gần 20% kể từ mức kỷ lục ngày 9.4.2018. Dự báo trong 12 tháng tới, thị trường cổ phiếu Việt Nam sẽ được giao dịch với P/E trung bình ở mức 15,1 lần , giảm từ mức cao trên 20 lần và thấp hơn mức trung bình  năm, theo dữ liệu từ Bloomberg.

Mặt bằng giá cổ phiếu hạ xuống thời gian gần đây là một cơ hội, chứ không phải dấu hiệu của bất kỳ cuộc khủng hoảng nào. Tình trạng giảm điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam đồng nghĩa với cơ hội mua vào giá hời cho các nhà đầu tư. Đây là một lựa chọn không tồi, bởi thị trường đang rất khả quan với tăng trưởng, nhờ đà tạo ra từ đầu tư nước ngoài và thu nhập cá nhân gia tăng.

Tác giả: Rainer Michael Preiss (bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả). 

Chứng khoán trước nỗi lo “thắt chặt định lượng” - ảnh 3

"Lời khuyên là cái ta muốn có khi ta đã biết câu trả lời mà ta không muốn nghe.". ---- Erica Jong (Tiểu thuyết gia)

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 66 tháng 11.2018

 Số 66 tháng 11.2018

THÀNH PHỐ THÔNG MINH

TỪ CAO ỐC XANH, GIAO THÔNG THÔNG MINH

ĐẾN ĐÔ THỊ ĐÁNG SỐNG

*DANH SÁCH FORBES 400 * HỘI NGHỊ PHỤ NỮ FORBES VIETNAM

Các số báo khác