Làm chủ công nghệ sinh học là động lực để doanh nhân Lương Thanh Văn tham gia lĩnh vực nuôi trồng với tham vọng nâng cao giá trị cho tôm Việt Nam.

Ông chủ tập đoàn Việt Úc nâng tầm con tôm Việt - ảnh 1

Niên vụ 2014, công ty Sao Đại Dương (Hà Tĩnh) đặt mua 200 triệu con tôm giống từ tập đoàn Việt Úc, một nửa để thả các ao nuôi nội bộ, một nửa phân phối. Trên diện tích nuôi trồng 120 héc ta nhiều năm qua Sao Đại Dương thu về ổn định 800-1.000 tấn tôm thịt nên gắn bó với nhà cung cấp này. “Tỉ lệ nuôi thành công đạt 80% so với mức trung bình 50-70% của những công ty cung cấp khác. Tôm Việt Úc kháng bệnh, tăng trưởng tốt,” bà Nguyễn Thị Hạnh, tổng giám đốc Sao Đại Dương cho biết.

Năm 2014, trong khoảng 70 tỉ con tôm giống tiêu thụ tại thị trường nội địa, Việt Úc cung ứng khoảng 15 tỉ con. “Trước thấy gần gần chứ giờ thấy mình ngày càng bỏ xa ‘ông’ kế tiếp. Đó là nhờ công nghệ,” ông Lương Thanh Văn, chủ tịch hội đồng quản trị công ty Việt Úc nói với phóng viên Forbes Việt Nam.

Sau giai đoạn tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới và mày mò thử nghiệm, từ khâu cung cấp giống, Việt Úc đang mở rộng sang nuôi trồng. Công ty cũng vừa được cấp phép kinh doanh tôm bố mẹ thương phẩm, sân chơi trên thế giới trước đây có 5 - 6 nhà sản xuất. Tham vọng của doanh nhân Việt kiều Úc này là trong ba năm tới sử dụng công nghệ sinh học nâng giá trị tôm Việt, một ngành xuất khẩu mũi nhọn năm qua xuất khẩu đem về hơn 4 tỉ USD cho Việt Nam.

“Việt Úc chuyên làm về giống, số một Việt Nam,” ông Lê Văn Quang, chủ tịch Minh Phú đánh giá.

Hiện tại, Việt Úc có bảy công ty con nằm rải rác tại các vùng nuôi chiến lược từ Nghệ An đến Cà Mau. Ông Văn, sở hữu cổ phần lớn của Việt Úc, cho rằng trong ngành sản xuất tôm giống nếu chấm Việt Úc 10 thì công ty thứ hai khoảng 4 - 5, các công ty tiếp theo quá nhỏ. Theo thông tin tự bạch, năm ngoái Việt Úc đạt doanh thu 1.200 tỉ đồng, tỉ lệ tăng trưởng kép (CAR) từ năm 2005 đến nay lên tới 65%. Tỉ suất lợi nhuận/doanh thu của công ty này trong điều kiện bình thường không bị dịch bệnh lên tới 35%.“Làm ngành này rồi tôi không muốn làm ngành nào khác,” ông nói.

Việt Úc hiện có vốn điều lệ 100 tỉ đồng, quy mô khá khiêm tốn nếu đặt cạnh các công ty thủy sản hàng đầu như Minh Phú, Vĩnh Hoàn, Hùng Vương với những con số hàng trăm tỉ đồng. Nhưng các số liệu sổ sách chưa thể hiện hết giá trị công ty này. Không kể thức ăn chăn nuôi, chuỗi giá trị ngành tôm gồm bốn mắt xích chính: tôm bố mẹ - tôm giống - chăn nuôi - chế biến.

Hiện tại Việt Úc là công ty duy nhất tại Việt Nam đang tham gia vào ba mắt xích đầu tiên. Trong đó, hai mắt xích đầu có hàng rào gia nhập và chứa hàm lượng chất xám cao nhất. Trên thế giới chỉ có CP Foods (Thái Lan) khép kín hoàn thiện chuỗi giá trị này và sản xuất đại trà ở quy mô thương mại. 

Theo các nghiên cứu chuyên môn của ngành, thông thường 90% giá thành tôm thịt đến từ chi phí thức ăn nhưng khâu giống quyết định một nửa thành công. Những năm trước đây hoạt động kinh doanh của Việt Úc tập trung vào khâu sản xuất tôm giống. Như đa phần các công ty nội địa cùng ngành, nguồn tôm bố mẹ Việt Úc phải nhập khẩu từ Mỹ, Singapore hoặc Thái Lan nhưng điểm khác biệt là áp dụng công nghệ sinh học.

Ông chủ tập đoàn Việt Úc nâng tầm con tôm Việt - ảnh 2

“XUẤT KHẨU TÔM VIỆT NAM NĂM QUA ĐẠT GIÁ TRỊ 4 TỈ USD. NHƯNG NGUỒN TÔM BỐ MẸ PHỤ THUỘC HOÀN TOÀN NƯỚC NGOÀI.” 

Ông chủ tập đoàn Việt Úc nâng tầm con tôm Việt - ảnh 3“Các công nghệ SCIRO đã phát triển và chuyển giao cho Việt Úc thuộc hàng tiên tiến nhất trên thế giới,” ông Nigel Preston giám đốc nghiên cứu của SCIRO, đơn vị tư vấn và chuyển giao cho Việt Úc trả lời phỏng vấn Forbes Việt Nam qua email. SCIRO là tổ chức nghiên cứu công nghệ sinh học trực thuộc chính phủ Úc, thời gian qua đã tư vấn và chuyển giao cho Việt Úc nhiều kỹ thuật công nghệ sinh học mới nhất. 

“Xuất khẩu tôm Việt Nam năm qua đạt giá trị 4 tỉ USD. Nhưng nguồn tôm bố mẹ lệ thuộc hoàn toàn nước ngoài. Nếu bị cắt là mất trắng 4 tỉ USD,” ông Văn nói. Doanh nhân 52 tuổi kể vì thiên tai có bận các nhà sản xuất tôm giống Trung Quốc đẩy giá mua tôm bố mẹ tăng gấp đôi khiến nguồn cung bị ảnh hưởng.

Từ khi nhập tôm bố mẹ về đến khi có tôm giống xuất xưởng trung bình mất thời gian hai tháng do trải qua nhiều công đoạn kỹ thuật: hồi sức tôm bố mẹ, vỗ béo, sàng lọc lấy cá thể khỏe mạnh, kích sinh sản, tôm mẹ đẻ trứng, trứng thành ấu trùng, ấu trùng thành con giống. Mắt xích đầu tiên bị ảnh hưởng tác động liên hoàn: nông dân thiếu giống, công ty chế biến không có nguyên liệu đầu vào, công ty xuất khẩu không thực hiện được đơn hàng đã ký. 

Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km và vùng mặt nước nội địa rộng hơn 1,4 triệu héc ta, nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc, điều kiện tự nhiên phù hợp, Việt Nam có lợi thế đặc biệt phát triển ngành công nghiệp thủy sản. 10 năm trở lại đây Việt Nam cùng với Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh và Ecuador trở thành các quốc gia cung ứng nguồn tôm thịt chủ lực cho toàn thế giới, thị trường có giá trị khoảng 20 tỉ USD.

Ông David Gorman, giám đốc thương mại của Amada Seafood, công ty chuyên thu mua tôm từ Việt Nam đánh giá, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên nhà buôn đang đưa tôm Việt Nam vào các hệ thống bán lẻ có tiếng như Walmart, Tesco nhận xét người nông dân tiếp cận rất ngắn hạn: “Họ nghĩ đến kiếm tiền qua từng vụ chứ không nhìn vào thực tế cần tạo nguồn cung cấp lâu dài, bền vững.” 

Phong trào phát triển vùng nuôi tự phát, không đầu tư kỹ thuật nên sau khoảng ba năm ao nuôi sẽ thành ổ bệnh. Mầm bệnh phát tán qua nguồn nước rồi lây nhiễm toàn vùng. Nông dân thường đối phó bằng việc sử dụng kháng sinh thả xuống từng ao nuôi. Những năm qua, có những lô hàng tôm xuất khẩu qua Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc bị phát hiện có dư lượng kháng sinh vượt ngưỡng và bị trả về. “Điều này giảm uy tín ngành công nghiệp tôm Việt Nam. Tôi thấy một số khách hàng chuyển khối lượng sang các quốc gia khác,” ông David Gorman cảnh báo. 

Việt Úc đang tìm cách khắc phục điểm yếu này. Trên diện tích 50 héc ta tại Bạc Liêu công ty vừa thử nghiệm nuôi tôm thịt bằng công nghệ sinh học. Quy trình mới có nhiều điểm khác biệt với phương pháp thâm canh truyền thống: Ao nuôi được lót bạt chuyên dụng, dưới đáy có ống xi phông lọc chất bẩn.

Để hạn chế sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm 100% ao nuôi được đặt trong nhà kính. Nước biển chỉ được đưa vào ao sau khi xử lý qua nhiều công đoạn: giữ trong ao tạm chờ lắng chất bẩn, lọc lại bằng cát, lọc tiếp bằng lưới micro rồi chiếu tia cực tím khử trùng. Nguồn thức ăn được giảm bột cá, bổ sung thêm Novacq.

Đầu tư cơ sở vật chất lớn như vậy nên chi phí cho mỗi héc ta mặt nước lên tới bảy tỉ đồng /héc ta, cao hơn nhiều so với suất đầu tư 200 triệu đồng/héc ta truyền thống. Tuy nhiên trên diện tích thử nghiệm, bước đầu ông Văn nhận kết quả đáng khích lệ. Với mật độ thả 200 - 500 con/m2, sau ba tháng công ty thu hoạch 40 - 100 tấn tôm thịt/héc ta, cao gấp 4 - 5 lần so với mức thông thường. 

Ông Văn dáng dong dỏng cao. Dù có nhiều năm sống và kinh doanh ở nước ngoài nhưng ông vẫn giữ cách nói chuyện chân chất của người Nam Bộ. Sinh năm 1963 tại Cà Mau, ông là con thứ ba trong một gia đình có chín anh chị em. Năm 1982 theo chân một người anh, ông vượt biên rồi định cư tại Úc. Trước khi khởi nghiệp kinh doanh riêng ông có hai năm làm công nhân trong xưởng sửa chữa máy lạnh, mở cửa hàng may.

Bước ngoặt diễn ra khi ông gặp một người Hy Lạp, chủ cơ sở một xưởng may gia công quần áo nhỏ. Ông thuyết phục người này giao lại cho ông lô hàng gia công 4.000 chiếc áo. Đơn giá là 5 đô la Úc, ông bỏ mối lại cho các hộ gia đình với giá bằng phân nửa nên kiếm được 10.000 đô la Úc sau hai tuần. Thành công này khích lệ ông tiếp tục hợp tác, tích lũy vốn, sau đó mua lại cơ sở này khi người chủ cũ muốn rút chân ra khỏi kinh doanh.

Ở tuổi 21, chàng thanh niên trẻ khi đặt chân lên nước Úc không một xu dính túi, mất 8 tháng lang thang tìm việc trở thành ông chủ. “Mình trẻ, mùa đông da dẻ lại trắng bóc ra. Ban đầu gặp đối tác nói chuyện không ai tin,” ông cười nhớ lại. Quy mô nhỏ nên với đơn hàng lớn ông phải bỏ mối lại cho các hộ gia đình gia công.

Để giúp bà vợ mắc bệnh tim tránh xa không khí ồn ào bụi bặm của xưởng may, năm 1987 ông mở tiệm rửa hình L&D Photo (viết tắt chữ Lương và Dương, họ của doanh nhân này và bà vợ). Thời điểm này hãng Kodak đang thống lĩnh thị trường Úc với hàng ngàn đại lý. Nhiều cửa hàng bán thuốc tây cũng thành đại lý cho hãng này. Ông thuyết phục họ hợp tác nhưng bất thành nên xoay qua rủ rê chủ tiệm bán báo, cửa hàng tạp hóa nhỏ.

Ông chủ tập đoàn Việt Úc nâng tầm con tôm Việt - ảnh 4

Để thu hút khách hàng ông tạo ra dịch vụ khác biệt: dưới bán kính 10 km trả hình sau hai giờ, từ 10-20 km sáng lấy chiều trả, ngoài 20 km… thì giống Kodak nhận phim hôm trước hôm sau trả hình. Dịch vụ tốt, giá mềm nên ông nhanh chóng phất lên để có hàng trăm đại lý, từ Melbourne tiến ra thành phố khác. Ông đổi thương hiệu thành QFL (Quality for Less- Chất lượng cho giá rẻ) để phù hợp với quy mô mới.

Ở nhánh kinh doanh đầu tiên, công ty may lúc cao điểm phát triển lên tới 300 công nhân. Tuy nhiên do chính sách thuế thay đổi cộng xu hướng chuyển dịch các ngành nghề thâm dụng lao động sang các quốc gia có chi phí nhân công rẻ hơn khiến đơn hàng ít dần, kinh doanh sa sút. Năm 1996, ông Văn đóng cửa nhà máy may.

Trong những dòng hồi tưởng lại những ngày tháng ở xứ sở kangaru, chủ tịch Việt Úc không giấu niềm tự hào khi là người mạnh tay đầu tư cho công nghệ nên vượt qua Kodak. Ông Lương Văn Sỹ, phó chủ tịch Việt Úc, người sát cánh với ông Văn những ngày đầu kể, năm 1997 doanh nhân này “chịu chơi” mua chiếc máy rửa hình trị giá 3 triệu đô la Úc của hãng Agfa. Cỗ máy tráng hình tiên tiến nhất thời điểm đó có công suất rửa 48.000 tấm hình/giờ.

Ông Sỹ cho biết nhờ dịch vụ và đầu tư vào kỹ thuật năm 2003, QFL qua mặt Kodak trở thành hệ thống rửa hình có nhiều đại lý nhất nước Úc. Năm 2004 công ty đạt mốc 6.000 đại lý. Năm 2005, Kodak tại Úc giao lại hệ thống phân phối cho QFL, đổi lại phải sử dụng vật tư, thiết bị ngành ảnh của họ.

Những năm cuối thập niên 1990, tại Việt Nam lúc này nông dân vùng ĐBSCL chuyển dịch từ cây lúa sang nuôi thủy sản vì hiệu quả kinh tế cao hơn. Chìa khóa kỹ thuật dẫn đến thành công trong ngành rửa hình thôi thúc ông Văn “thăm gần hết các cơ sở sản xuất thủy sản tiên tiến ở châu Á” rồi quyết định mở trại sản xuất tôm giống.

“Đối với tôi, bản chất con người là thận trọng. Mạnh dạn đầu tư nhưng vẫn phải thận trọng,” ông nói và giải thích về sự lựa chọn này: thời gian sản xuất ngắn, hàm lượng chất xám cao, nuôi trong nhà dễ quản lý, chi phí thấp và… lúc đó có rất ít nhà cung cấp giống. Năm 2001, trại giống ra đời. Ông đặt tên công ty là Việt Úc để nhớ về hai quê hương.

Ông kể, khi tới Bình Thuận xin 10 héc ta đất mở trại giống, phó chủ tịch tỉnh bảo: “Em mới làm chưa rành. Làm giống người ta xin 1.000-2.000 m2 thôi. Nhiều như thế là nuôi tôm thịt.” Ban đầu ông chỉ được tỉnh cấp cho 1,6 héc ta. “Chỉ hai tháng sau vị lãnh đạo này tình cờ đi qua nhìn thấy trang trại ‘mất hồn’.” ông cười nói.

Do đặc thù kinh doanh tôm giống có vòng quay vốn nhanh nên mau chóng ông thu 1 triệu đô la Mỹ đầu tư ban đầu và tiếp tục tái đầu tư mở rộng. Bước đột phá của Việt Úc diễn ra vào năm 2005 khi tôm thẻ chân trắng phát triển thay thế tôm sú. Năm 2011, ông Văn đóng cửa hệ thống QFL do các phương tiện kỹ thuật số trở thành “sát thủ” đẩy ngành phim cảm quang bước sang giai đoạn suy tàn.

Năm 2015 dự kiến Việt Úc tăng trưởng 35%. Trong ba năm tới ông Văn muốn dẫn dắt công ty đạt 70-100 triệu đô la Mỹ lợi nhuận. Nhiệm vụ có khả thi? “Nguồn cung ổn định và chất lượng là yếu tố thu hút lớn đối với thị trường và sẽ tách biệt Việt Úc ra khỏi mô hình mua bán chạy theo giá trị ngắn hạn,” ông David Gorman đánh giá về hướng đi của Việt Úc.

Sau giai đoạn nuôi thử nghiệm, Việt Úc đang chuẩn bị sản xuất tôm thịt theo quy mô đại trà. Khi quy mô đủ lớn dự kiến sản phẩm tôm Việt Úc sẽ xuất trực tiếp vào các thị trường cao cấp phân khúc khách sạn nhà hàng năm sao. Ông Văn cho rằng sản phẩm nuôi trồng bằng công nghệ sinh học không chỉ cho năng suất vượt trội mà còn có khả năng truy xuất nguồn gốc nên đem lại giá trị cao. Ông gọi con đường mình đang đi là “nâng tầm tôm Việt.”

(*) Tựa theo bản in: Nâng tầm tôm Việt (tạp chí Forbes Việt Nam số 27, tháng 8.2015)

Đọc thêm >>>
 
CEO Ngô Văn Tụ: Người đưa VinaSoy đi lên từ bờ vực
Người trồng hoa ở Đà Lạt Hasfarm: Hoa từ trái tim Việt
CEO Trương Thị Lệ Khanh: “Nữ hoàng” cá tra
CEO Unifarm Mai Hữu Tín: Làm nông công nghệ cao
Chủ tịch SSI Nguyễn Duy Hưng: Nhà đầu tư khôn ngoan
FPT: Chuyển giao thế hệ lãnh đạo và tham vọng không ngừng
CEO VNG Lê Hồng Minh: Nếu thất bại, bản thân bạn chính là nguyên nhân


"Có ý tuởng thì dễ. Biến ý tuởng đó thành hiện thực mới là điều khó". ---- Nhà văn Guy Kawasaki

Tạp chí Forbes Việt Nam

Số 73 tháng 6.2019

 Số 73 tháng 6.2019

Bao Forbes Vietnam so 73
 
  • - DANH SÁCH 50 CÔNG TY NIÊM YẾT TỐT NHẤT
  • - BIA CŨ, BÌNH MỚI (THAY ĐỔI Ở SABECO)
  • - CẦU NỐI THẾ HỆ (THẾ HỆ THỨ BA TẠI FPT)
  • - QUÁ NHANH, QUÁ NGUY HIỂM (CÂU CHUYỆN YEAH1)

Các số báo khác