Kế hoạch cổ phần hóa mạng di động MobiFone dự kiến hoàn tất vào năm 2015, đúng 10 năm sau khi kết thúc hợp đồng hợp tác kinh doanh mạng viễn thông di động đầu tiên của Việt Nam với đối tác Comvik (Thụy Điển). 

Ngày 5.8.2014, chủ tịch Comvik International Vietnam AB, ông M.A. Zaman có cuộc gặp bộ Thông tin - Truyền thông đề xuất mong muốn tiếp tục hợp tác đầu tư vào MobiFone - thương hiệu viễn thông di động đầu tiên của Việt Nam mà họ cùng gầy dựng trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) thời hạn 10 năm (1995-2005).

Sau nhiều năm chờ đợi MobiFone cổ phần hóa bất thành, Comvik vắng bóng tại Việt Nam. Cuộc “tái xuất” của ông Zaman chỉ một tháng sau khi chính phủ ban hành quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và điều chuyển công ty con VMS - MobiFone về bộ Thông tin - Truyền thông. MobiFone sẽ được tổ chức lại theo mô hình tổng công ty có vốn điều lệ 12.600 tỉ đồng, thuộc quy mô lớn trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và hoàn tất chậm nhất vào năm 2015 – tròn một thập niên kể từ khi kế hoạch cổ phần hóa được đưa ra.

Cổ phần hoá MobiFone mười năm lỗi hẹn - ảnh 1

Tách khỏi VNPT, MobiFone được xem sẽ thuận lợi hơn trong quá trình cổ phần hóa và chọn đối tác chiến lược. 

Ông Zaman đề xuất với bộ Thông tin - Truyền thông: “Quá trình hợp tác và đầu tư lâu dài tại Việt Nam đã giúp tôi hiểu biết nhiều về Việt Nam cũng như xây dựng mối quan hệ tốt đẹp. Tôi tin rằng Comvik và cá nhân tôi có cơ hội và khả năng thành công tốt hơn để đầu tư vào MobiFone so với các nhà đầu tư nước ngoài khác,” – theo ICTnews, cơ quan phát ngôn chính thức của bộ Thông tin - Truyền thông.

Comvik là nhà đầu tư nước ngoài hiếm hoi thành công trong mảng viễn thông tại Việt Nam, khi kết thúc dự án họ cho biết thị trường Việt Nam nằm trong ba nước đem lại doanh thu cao nhất trong 19 thị trường mà tập đoàn mẹ Millicom đầu tư. Năm 2005, MobiFone đạt doanh thu hơn 400 triệu USD và lợi nhuận hơn 130 triệu USD. Vài năm trước khi kết thúc dự án BCC, Comvik vẫn tiếp tục đầu tư ngoài cam kết với kỳ vọng vào cuộc chơi dài hạn ở Việt Nam sau khi MobiFone cổ phần hóa.

Hoạt động vào giai đoạn khung pháp lý của ngành viễn thông còn khá sơ khai và lỏng lẻo, nhưng Comvik đã may mắn hơn nhiều so với những tên tuổi gia nhập thị trường sau nhiều năm nhưng vẫn thất bại như VimpelCom, SK Telecom... 

THÀNH CÔNG CỦA MOBIFONE ĐEM ĐẾN sức hấp dẫn lớn cho thị trường viễn thông với giới đầu tư quốc tế. Những năm 2000 nhiều hãng viễn thông vào Việt Nam tổ chức các hoạt động thị trường, triển khai các dự án hợp tác để tìm cơ hội.

Năm 2005, lần đầu tiên chính phủ phát đi tín hiệu có thể cho phép cổ phần hóa các công ty viễn thông, năm 2006 MobiFone đã chọn Credit Suisse làm nhà tư vấn đưa ra nhiều phương án định giá, dự kiến công bố nhà đầu tư chiến lược đầu năm 2008 và IPO vào cuối năm nhưng kế hoạch bất thành.

Kỳ vọng của nhà đầu tư tiếp tục đổ dồn vào lộ trình gia nhập WTO, thời điểm mở cửa ngành viễn thông năm 2009 cho phép các đối tác tham gia thị trường với tỉ lệ nắm giữ đến 49%. Tuy nhiên hàng loạt các cuộc “hôn phối” thất bại, từ FPT - EVN, SPT - SK Telecom, VimpelCom - Gtel... Những tên tuổi quen thuộc khác cũng rút dần các hoạt động tại Việt Nam.

Orange France Telecom của Pháp đeo đuổi cơ hội từ năm 1997 qua dự án BCC với VNPT xây dựng 540.000 đường dây điện thoại cố định tại TP.HCM. Họ chờ đợi gần 15 năm để có thể tham gia một chân vào một trong hai mạng di động VinaPhone hoặc MobiFone. Năm 2007, tổng giám đốc Jean-Pierre Achouche công bố “chờ cơ hội trở thành cổ đông ở các công ty cổ phần trong lĩnh vực thông tin di động sắp hình thành tại Việt Nam.”

Người kế nhiệm Jacques Fulcrant khi rời nhiệm sở năm 2011 cũng công bố “chuyển lại kế hoạch tiếp tục theo đuổi mua cổ phần MobiFone cho người kế nhiệm Laurent Zylberberg.” Laurent công bố tiếp tục “cuộc chinh phục 2015” tại Việt Nam nhưng các hoạt động của họ hầu như ngưng trệ một năm sau đó.

Trong suốt giai đoạn 2005-2013, MobiFone đạt mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận bình quân 23% và 6% mỗi năm, đóng góp trung bình gần 40% doanh thu và hơn 60% lợi nhuận hằng năm cho VNPT trong khi chỉ chiếm 4% nhân sự. Nhưng những chỉ số kinh doanh “đẹp” đã trở thành lực cản rất lớn đối với tiến trình cổ phần hóa MobiFone. MobiFone thành “xương sống” gánh đỡ các hoạt động kinh doanh của tập đoàn mẹ 100% vốn nhà nước với một hệ thống bưu chính viễn thông ì ạch từ nhiều chục năm bao cấp. Nhiều dự án đầu tư thất bại do sai lầm về chiến lược thị trường hoặc sự đào thải của công nghệ, từ các mạng CDMA nội vùng, mạng CityPhone cho đến các dự án ngoài ngành khác.

Cổ phần hoá MobiFone mười năm lỗi hẹn - ảnh 2

Bình luận về cải cách doanh nghiệp nhà nước, tiến sĩ Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, cho rằng: “Cải cách thì động chạm đến lợi ích, động chạm đến quyền lực, để vượt qua được rào cản đó cần có quyết tâm chính trị rõ nét.” Doanh nghiệp nhà nước là khu vực nắm một nguồn lực lớn, làm thế nào phân bổ nguồn lực này và sử dụng hiệu quả nhất cho sự phát triển kinh tế.

Ông khẳng định: “Động lực cải cách trong các doanh nghiệp hiện nay đã khác, có cách nhìn tổng thể hơn đến từ nhu cầu của chính doanh nghiệp và từ áp lực của thể chế.”

Theo số liệu của hãng nghiên cứu BMI, doanh thu bình quân trên thuê bao di động (ARPU) tại Việt Nam giảm dần, từ mức 6,5 và 6 USD/thuê bao/tháng của năm 2007-2008 giảm xuống còn lần lượt 5,52 và 5 USD vào năm 2009-2010, dự báo giảm xuống 3,51 USD vào năm 2015 nếu không có các dịch vụ mới kích thích thị trường.

Đỉnh điểm của thị trường năm 2010 có hơn 170 triệu thuê bao, tương đương với tỉ lệ thâm nhập dịch vụ/số dân hơn 180%, thị trường rơi vào vùng tăng trưởng ảo. Nguồn doanh thu chính dựa vào thoại chiếm đến 80-90% trong giai đoạn dài khiến những năm gần đây các nhà mạng chống đỡ vất vả với một thị trường bão hòa lại phải đối mặt với các dịch vụ mới làm giảm doanh thu như OTT.

Chính sách quản lý siết chặt hơn hoạt động khuyến mãi, SIM rác và thuê bao ảo đã kéo số thuê bao thu hẹp dần từ 180 triệu năm 2010 còn 121 triệu của tháng 6.2014 và các dịch vụ gia tăng được vực dậy, dù mới chiếm tỉ lệ hơn 20% doanh thu. 

VIỄN THÔNG LÀ NGÀNH KINH DOANH CHỊU NHỮNG QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ về quản lý an ninh thông tin và quy hoạch hạ tầng quốc gia. Bản chất của ngành kinh tế viễn thông là khai thác nguồn tài nguyên hữu hạn trên băng tần và kho số để cung ứng nền tảng cho các ngành kinh tế khác phát triển.

Sau nhiều năm các nhà mạng tập trung phát triển thuê bao, thiếu các chính sách mở để tạo lập thị trường, tạo ra không gian cho cộng đồng công nghệ tham gia thiết kế nội dung và ứng dụng để gia tăng dịch vụ và doanh thu, dần khiến các mạng đối mặt với việc suy giảm tăng trưởng do cạnh tranh khốc liệt.

Tiến sĩ Mai Liêm Trực, nguyên thứ trưởng bộ Bưu chính Viễn thông từng nhận định, các biện pháp cạnh tranh tình thế càng làm bộc lộ tính lợi ích nhóm sau khi ngành viễn thông đã đạt được những thành quả nhất định, phản ánh vòng luẩn quẩn về điều phối cơ sở hạ tầng mà chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước sở hữu.

“Việc cổ phần hóa chậm chạp càng làm hạn chế thị trường. Giải pháp cho thị trường cạnh tranh trong giai đoạn mới là xã hội hóa để nhiều khu vực kinh tế tham gia và đa dạng nguồn đầu tư vào ngành viễn thông ngoài ngân sách nhà nước.” theo TS.Trực.

Còn chưa có nhiều thông tin để nhận định về việc cổ phần hóa và chiến lược của MobiFone nhưng các nhà đầu tư nhận định đề án tái cơ cấu VNPT là kết quả tối ưu cho MobiFone vì không phải nhận kèm nhiều công ty con và tài sản thua lỗ như dự tính trước đó (MobiFone gánh khoản nợ 1.600 tỉ đồng từ tập đoàn sau chia tách). MobiFone tập trung vào những tài sản trực thuộc sẽ thuận lợi cho việc chuẩn bị.

Một yếu tố thuận lợi khác là nhờ hạch toán độc lập từ mô hình BCC nên các chỉ số tài chính của MobiFone cũng thúc đẩy việc IPO nhanh hơn (dự kiến 2016-2017). “Động thái này tháo gỡ bế tắc cản trở quá trình IPO MobiFone trong 8-9 năm qua,” công ty chứng khoán TP.HCM (HSC) nhận định.

Trong một báo cáo phát hành cho nhà đầu tư, HSC định giá MobiFone khoảng 3,4 tỉ USD và dự báo có thể lên hơn 4 tỉ USD khi IPO. Nhưng mức định giá này vẫn thấp hơn nhiều lần so với đa số các mạng viễn thông khu vực ASEAN.

Trong lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đến 2015, MobiFone thuộc nhóm nhà nước nắm giữ 75%, tỉ lệ này có thể thay đổi theo lộ trình thoái vốn của nhà nước với mức nắm ít nhất 51% cổ phần tại các doanh nghiệp viễn thông chủ chốt - theo luật Viễn thông hiện hành.

HSC cho rằng cơ hội cho MobiFone đã thuận lợi hơn bởi “thị trường chờ đợi MobiFone IPO từ 2006 nhưng bị hoãn nhiều lần do những trở ngại trong nội bộ VNPT, những khó khăn trong phân chia và đánh giá tài sản và thiếu khung pháp lý cho cổ phần hóa trong ngành. Những rào cản này hiện không còn.”

Cổ phần hoá MobiFone mười năm lỗi hẹn - ảnh 3

Tuy nhiên các chuyên gia trong ngành cho rằng “không phải tất cả đều màu hồng.” Chiến lược phát triển dịch vụ của một mạng viễn thông dựa vào sức mạnh hạ tầng băng rộng nhưng lâu nay MobiFone hoạt động dựa vào mạng lưới và hạ tầng của tập đoàn mẹ.

Theo chuyên gia Hoàng Ngọc Diệp: “Sức mạnh cạnh tranh chính của các mạng di động dựa vào hạ tầng tài nguyên quốc gia từ băng tần đến kho số. Thực tế thị trường cho thấy hàng loạt nhà mạng thất bại vì gặp trở ngại trong kết nối và chia sẻ tài nguyên, sự ưu đãi “bất thành văn” cho các mạng 100% nhà nước từng làm hạn chế hoạt động kinh doanh của các mạng đối thủ.”

Cơ hội mới của MobiFone theo các chuyên gia vô cùng lớn. Đặc biệt trong thị trường còn thiếu vắng các dịch vụ cao cấp, đòi hỏi năng lực công nghệ vượt trội và tính bảo mật cao như nền tảng cho chính phủ điện tử/y tế giáo dục điện tử, các hệ thống quản lý tập trung về ngành giao thông vận tải, eCommerce/mCommerce, kết nối ngân hàng và thanh toán...

Theo ông Diệp, những cơ hội đó chỉ hiện thực hóa khi MobiFone được cấp quyền phát triển hạ tầng độc lập, tạo nền tảng cung ứng dịch vụ linh hoạt ra thị trường. “Thị trường chờ đợi và có thể nghi ngờ khả năng MobiFone có được quyền cung cấp hạ tầng đến mức mạng WAN (mạng dữ liệu băng rộng kết nối các mạng đô thị - MAN) hay không”.

Cách thức để MobiFone tạo thế chân vạc với Viettel và VNPT trên thị trường như kỳ vọng theo các chuyên gia còn cần sự thay đổi lớn về chính sách phát triển hạ tầng viễn thông để giải quyết những bất cập trong quản lý ngành, đặc biệt đối với những công ty viễn thông nhà nước không nắm 100% vốn. “MobiFone chỉ có thể phát huy hết sở trường sau cổ phần hóa khi có một môi trường sinh thái và hành lang pháp lý hoàn thiện cho cả thị trường viễn thông cùng ý chí phát triển của chính MobiFone,” theo ông Diệp.

Nói với Forbes Việt Nam, ông Võ Trí Thành nhận định, việc cải cách và mở cửa đối với lĩnh vực viễn thông ở hầu hết các thị trường đều rất khó khăn. Quá trình phát triển và cạnh tranh ở lĩnh vực này tại Việt Nam đã đạt được một số yếu tố tích cực, nhưng thị trường cần những nhân tố mới làm động lực mạnh mẽ hơn cho việc phát triển kinh tế. Công nghệ thông tin không chỉ là lĩnh vực ngành mà là kết cấu hạ tầng cho phát triển và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

“Việc cổ phần hóa MobiFone nằm trong ý tưởng phải mang lại những công nghệ quản trị tốt hơn, sự cạnh tranh tốt hơn trên thị trường để bản thân ngành đó phát triển, mà quan trọng nhất là mang lại tính lan tỏa cho nền kinh tế,” ông Thành khẳng định.

Trung tuần tháng 8, ông Lê Nam Trà, phó tổng giám đốc MobiFone được bổ nhiệm giữ chức tổng giám đốc thay cho ông Mai Văn Bình, một động thái mới về quản trị được giới quan sát cho rằng sẽ tạo nên những chuyển biến mới trong hoạt động của MobiFone thời gian tới.

Trong khi đó, VinaPhone tháng rồi ký hợp tác chiến lược với hãng viễn thông Anh Vondafone trong mục tiêu tận dụng lợi thế thị trường, kỹ thuật và kinh nghiệm để phát triển kinh doanh và đẩy mạnh thị trường quốc tế, được xem là động thái mới của mạng di động thuộc VNPT sau tái cơ cấu.

Vondafone quen thuộc với thị trường viễn thông Việt Nam cùng những tên tuổi như Comvik, NTT Docomo, Orange France Telecom, Telstra, Telenor... Thị trường vẫn đang chờ đợi liệu Comvik có tìm lại được vị trí đối tác chiến lược của mình ở MobiFone, hoặc đối tác nào sẽ tốt nhất cho hãng viễn thông được IPO đầu tiên của Việt Nam? 

Bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng: Mong muốn Hoàn Mỹ - ảnh 3

CHƯA THÀNH CÔNG

Nhiều tên tuổi kinh doanh viễn thông quốc tế đổ hàng trăm triệu đô la Mỹ đầu tư ở Việt Nam như SK Telecom, Hutchison, VimpelCom nhưng không thành công.  

S-FONE: Mạng di động thứ ba ra đời ở Việt Nam, cung cấp dịch vụ từ tháng 7.2003 trên nền công nghệ CDMA băng tần 850 Mhz. S-Fone do S-Telecom điều hành, theo dự án BCC giữa Saigon Postel (công ty cổ phần đầu tiên về bưu chính viễn thông Việt nam) và SLD Telecom (liên doanh giữa các đối tác Hàn Quốc do SK Telecom nắm quyền chi phối).

Năm 2008, hai bên công bố nâng vốn đầu tư từ 230 triệu USD lên 543 triệu USD, phần vốn góp của đối tác 218 triệu USD. Tháng 8.2009, SKT chấm dứt mô hình đầu tư BCC để chờ chuyển sang mô hình liên doanh. Đàm phán thất bại, SKT rút khỏi Việt nam năm 2011 nhưng vẫn nắm 20% vốn điều lệ S-Telecom. Saigon Postel đầu tư 30% chi phối SPT nhưng tháng 7.2012, S.Fone ngừng hoạt động. Theo nguồn tin chưa chính thức, Viettel có phương án mua bán sáp nhập S-Telecom. Đại hội cổ đông thường niên SPT ngày 24.5.2014 thông qua phương án tái cơ cấu S-Telecom có tổng giá trị tối đa 2.500 tỉ đồng. 

E-MOBILE: Thương hiệu di động thứ năm tại Việt Nam ra mắt thị trường năm 2006 trên băng tần 450 Mhz công nghệ CDMA. E-mobile do công ty Thông tin viễn thông Điện lực (EVN Telecom) thuộc tập đoàn Ðiện lực Việt Nam, điều hành. Từ năm 2011, EVNT mất khả năng thanh toán. Năm 2010, FPT kỳ vọng thành cổ đông chiến lược nắm giữ 60% EVNT (có vốn điều lệ 3.000 tỉ đồng) và huy động nguồn phát hành 2.000 tỉ đồng trái phiếu. Tháng 4.2011 FPT rút khỏi dự án do mức nắm giữ tối đa 49% không cho phép họ chi phối các hoạt động ở EVNT. Đối tác trong nước khác là VTC tiếp tục theo đuổi kỳ vọng mua 30% cổ phần EVNT. Tháng 12.2011, Chính phủ quyết định chuyển giao EVNT sang Viettel.

HT-MOBILE: Tiền thân của mạng di động Vietnamobile, là mạng thứ sáu được cấp phép tại Việt Nam theo hợp đồng BCC giữa Hanoi Telecom và Hutchison (Hồng Kông), cung cấp dịch vụ từ năm 2006 trên nền công nghệ CDMA 2000-EVDO tần số 800 Mhz. Tháng 4.2009, HT-Mobile chuyển sang công nghệ GSM mở rộng (eGSM) và lấy thương hiệu Vietnamobile. Cho đến nay Hutchison là đối tác nước ngoài duy nhất còn tham gia đầu tư và điều hành mạng di động tại Việt Nam. Vốn đầu tư công bố năm 2005 là 655,9 triệu USD và nâng lên 880 triệu USD năm 2011 và có kế hoạch tăng lên 1,1 tỉ USD những năm kế tiếp. 

BEELINE: Hoạt động từ năm 2008 với công nghệ GSM ở băng tần 1800 Mhz, Beeline là liên doanh viễn thông đầu tiên của Việt Nam giữa tổng công ty Viễn thông toàn cầu (Gtel) thuộc bộ Công an và VimpelCom của Nga nắm 40% cổ phần, tương đương 267 triệu USD. Năm 2011, VimpelCom công bố đầu tư thêm 500 triệu USD vào Beeline, nâng tỉ lệ sở hữu lên 49%, nhưng năm 2012 VimpelCom đã rút khỏi dự án và bán cổ phần tại Beeline cho đối tác Việt Nam với giá 45 triệu USD. Gtel trở thành công ty cổ phần 100% vốn nhà nước. Ngày 17.9.2012, Gtel công bố thương hiệu mới Gmobile và chấm dứt sử dụng thương hiệu Beeline tại Việt Nam. 

(*) Tạp chí Forbes Việt Nam số 17, tháng 10.2014

Đọc thêm >>>
Bước chuyển của công ty phần mềm
CIO: Cần tư duy kinh doanh và năng lực quản trị sự thay đổi
Các tập đoàn lớn Việt Nam chạy đua vào mảng an ninh mạng
Stevie Awards 2019 vinh danh giải pháp xác thực hàng hóa VNPT Check
“Khát” nhân lực công nghệ thông tin, làm gì để bù đắp?
CEO VNG: Nếu thất bại, bản thân bạn chính là nguyên nhân
FPT: Chuyển giao thế hệ lãnh đạo và tham vọng không ngừng