Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: Thử nghiệm bước đầu - ảnh 1

ột ngày giữa năm 2014, Nguyễn Khắc Minh Trí, sáng lập MimosaTek, công ty cung cấp các giải pháp công nghệ cho nông nghiệp, lần mò giữa những đồi trà ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để tìm gặp ông Hồ Tất Và, giám đốc công ty trà Long Đỉnh để thuyết phục ông lắp đặt thử nghiệm các thiết bị IoT (Internet of Things – các thiết bị điều khiển qua Internet). Là người thích công nghệ, ông Và đồng ý. Sau hai năm thử nghiệm,  ông Và triển khai giải pháp điều khiển nước tưới của MimosaTek cho gần 10 héc ta trồng trà.

Sau lần thử nghiệm đầu tiên với ông Và, đến nay, MimosaTek đã triển khai giải pháp công nghệ cho khoảng 120 trang trại, trong đó có những đối tác lớn như công ty mía đường Thành Thành Công, công ty VinEco, hay trang trại của UniFarm. Công ty sáu năm tuổi này đã chuyển hướng từ cung cấp thiết bị sang giải pháp công nghệ cho nông nghiệp. Không chỉ có MimosaTek chọn hướng đi này, một vài công ty khởi nghiệp khác như NextFarm cũng đeo đuổi mô hình thu thập và phân tích dữ liệu, xây dựng giải pháp cho doanh nghiệp nông nghiệp.

Có cùng hướng đi, song lý do chọn lại hoàn toàn khác. Thất bại trong đầu tư trang trại trồng dâu tây sau hơn một năm vận hành, năm 2013, Trí suy nghĩ: “Nếu không giỏi làm nông nghiệp thì đi làm công nghệ cho nông nghiệp.” Ban đầu, Trí nghiên cứu, sản xuất thiết bị công nghệ để bán cho nông dân. Sau hai năm anh rút ra bài học quý giá. Anh chia sẻ: “Bán cho nông dân, tôi nghĩ phải tiết kiệm từng đô la trên giải pháp. Cuối cùng, tôi nhận ra rẻ hay đắt dựa trên dòng tiền thu về chứ không phải vài đô la.” Trí cũng nhận ra, sản xuất thiết bị đòi hỏi người dân đầu tư ban đầu lớn, nên khó mở rộng thị trường. Thay vì nhắm tới nông dân như lúc đầu, MimosaTek đang nhắm tới các doanh nghiệp lớn như Thành Thành Công, Minh Phú, Huy Long An.

Trong khi đang điều hành một công ty cung cấp phần mềm doanh nghiệp, năm 2017, Trần Quang Cường sáng lập NextFarm vì “nhiều ngành ở Việt Nam đã tự động hóa, riêng ngành nông nghiệp thì chưa.” “Tôi muốn tập trung vào việc làm sao sản phẩm của mình đem lại giá trị cho người trồng, giải quyết được bài toán quản lý nguồn lực trong nông nghiệp, và làm điều đó tới nơi tới chốn,” anh nói.

Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: Thử nghiệm bước đầu - ảnh 2

MimosaTek đưa ra thị trường các bộ cảm biến kèm các

ứng dụng. Theo Trí, các bộ cảm biến sau khi cắm xuống đất sẽ phát sóng giữa hai bên, sau đó thu lại dữ liệu để suy ra được độ ẩm, rồi chuyển dữ liệu lên Internet, kết nối với các ứng dụng trên di động. “Bằng việc tính toán độ ẩm đất và lượng nước tưới cần thiết, giải pháp của MimosaTek có thể giúp trang trại tiết kiệm nước và điện tương đối tốt,” ông Và cho biết. Trí cho rằng, sau khi phân tích dữ liệu, các giải pháp của họ phù hợp với doanh nghiệp lớn. Anh cho biết, giải pháp của MimosaTek giúp Thành Thành Công tiết kiệm khoảng 28% nước tưới cho trang trại hàng ngàn héc ta, hay tự động hóa giúp giải quyết được bài toán nhân lực trong nông nghiệp.

Trần Quang Cường, giám đốc điều hành NextFarm, cho

Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: Thử nghiệm bước đầu - ảnh 3

rằng: “Đích đến của nông nghiệp thông minh phải là dữ liệu”. Hiện nay NextFarm cung cấp các giải pháp châm phân dinh dưỡng (điều tiết chất dinh dưỡng, phân hay thuốc bảo vệ thực vật theo đường ống), tích hợp thu thập dữ liệu cảnh bảo sớm và hệ thống quan trắc môi trường cho khoảng 20 dự án ở các tỉnh phía Bắc như Phú Thọ, Hà Giang.

Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: Thử nghiệm bước đầu - ảnh 4

Xuất thân từ công nghệ thông tin, Cường chọn cách làm “ném đá dò đường” để giải quyết các vấn đề cụ thể trong sản xuất nông nghiệp. Anh chia sẻ: “Khi thu thập dữ liệu cảnh báo sớm trong môi trường gần biển thì cần hiểu về ngành công nghệ vật liệu và nghiệp vụ nông nghiệp. Đối với hệ thống châm phân dinh dưỡng thì vừa có cơ khí, vừa có tự động hóa, điện tử, công nghệ và kết nối các chuyên gia nông nghiệp hỗ trợ,” Cường giải thích. Cường cho rằng NextFarm dù có thể tự thiết kế phần cứng nhưng chưa đủ năng lực để sản xuất và cung cấp vài ngàn thiết bị mỗi tháng do kỹ thuật và yêu cầu quản trị hoàn toàn khác. Cũng tự thiết kế bảng mạch, cảm biến như NextFarm, Trí phải cùng người dân vận hành thiết bị vì “khó dùng quá họ sẽ bỏ.” “Khó khăn nhất là muốn đi nhanh thì phải phụ thuộc vào tư duy của người nông dân,” Trí nói.

Anh cho biết MimosaTek đang triển khai giải pháp cho khoảng 50 hộ trồng cà phê trên Tây Nguyên trong một chương trình của World Bank về nông nghiệp. Mỗi hộ được trang bị một cảm biến đo độ ẩm đất, sau khi nhập dữ liệu cây cà phê vào hệ thống (ngày nào đổ rễ, thoát hơi nước ra bao nhiêu), kết hợp với dữ liệu trực tuyến từ cảm biến để tính ra phải tưới bao nhiêu nước. “Người nông dân phải tuân thủ quy trình đó, tưới bao nhiêu nước trong thời gian bao lâu và tôi phải tài trợ họ cả đồng hồ nước và đồng hồ bấm giờ, rồi kiểm soát qua ứng dụng trên di động,” Trí kể.

Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: Thử nghiệm bước đầu - ảnh 5

MỘT VẤN ĐỀ LỚN TRONG PHÂN TÍCH DỮ LIỆU nông nghiệp là lượng dữ liệu chưa đủ lớn để huấn luyện các mô hình máy học. Điều này buộc các doanh nghiệp công nghệ phải kết hợp với doanh nghiệp nông nghiệp. Trí cho biết: “Chúng tôi xây dựng hệ thống mở, vì chúng tôi không thể biết hết các loại cây, khách hàng tự nhập dữ liệu về loại cây đó vào hệ thống. Chẳng hạn Thành Thành Công nghiên cứu rất sâu và có rất nhiều thông số về cây mía, VinEco có thông tin ban đầu về các loại cây rau. Và trong quá trình làm việc vẫn phải liên tục điều chỉnh để cho máy tiếp tục học.”

Trong khi mô hình khởi nghiệp ở các ngành khác cần khoảng 5 năm để nhà đầu tư có thể thu hồi vốn, Trí cho rằng ngành nông nghiệp cần ít nhất 10 năm, vì vậy việc gọi vốn cho MimosaTek cũng không dễ dàng. Để các doanh nghiệp lớn chấp nhận đầu tư thiết bị trên quy mô vài ngàn héc ta, anh phải tự làm thử nghiệm từ 3 – 4 vụ với chi phí khoảng 30 triệu đồng mỗi héc ta để chứng minh hiệu quả. “Đôi khi tôi thấy mình đang vi phạm hầu hết các quy tắc kinh doanh khi làm thử nghiệm quá lâu, ví dụ một vụ mía từ 8 – 11 tháng, cây ăn quả khoảng 3 – 4 tháng,” anh chia sẻ.

“Nhu cầu lớn nhất của người nông dân là đầu ra, thứ hai là làm sao đảm bảo được quy mô của vụ mùa, và yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho vụ mùa là phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, nên sau nước thì chúng tôi giải quyết đến phân bón. Đó là những nhu cầu chúng tôi học được từ người nông dân”, Trí nói. Theo anh, dù mảng phân bón rất khó nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và chi phí.

Trong phòng thí nghiệm của mình, Trí đang phát triển và thử nghiệm các thiết bị đo độ pH của đất để phân tích đất đó thiếu hay dư cái gì và tính toán thời điểm bón phân. Anh cho rằng trước đây người dân chỉ làm theo kinh nghiệm, với từng đó diện tích thì rải từng đó phân bón mà không biết là cây có ăn hay không, đất trong đó có dư không. “Chúng tôi đang đặt mục tiêu giảm 15% phân bón cho các nông hộ, trước đây các công ty giống thường cho luôn công thức phân bón, nông dân cứ bón xuống thôi chứ không biết cây thực sự cần bao nhiêu,” Trí chia sẻ.

Sau gần 5 năm hoạt động, Trí cho biết năm 2018 dòng tiền đủ để MimosaTek tự sống được. Hiện tại, Trí đặt mục tiêu tiến ra khu vực Đông Nam Á, sau khi rút khỏi Campuchia hai năm trước do “không đủ nguồn lực để triển khai”. “Chúng tôi đang làm việc với những đối tác có sẵn thị trường để hợp tác sử dụng mô hình của chúng tôi, nên năm nay có thể MimosaTek sẽ đi Thái Lan, Malaysia, Phillippines,” Trí chia sẻ. Với ngành nông nghiệp Việt Nam, anh mong muốn biến những giải pháp “có thì tốt như hiện tại thành bắt buộc phải có.”

*Tựa theo bản in Thử Nghiệm Bước Đầu trên tạp chí Forbes Việt Nam số 71 tháng 04.2019.