Văn hóa của May 10 - ảnh 1

Văn hóa của May 10 - ảnh 2

au khi đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn lịch sử ở vòng chung kết U23 châu Á 2018, liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) nhận vài cuộc điện thoại ngỏ lời xin tài trợ trang phục cho đội tuyển. Trong số các đề nghị, ban lãnh đạo VFF nghĩ đến một đơn vị may mặc có uy tín trong hoạt động xuất khẩu. Đúng lúc ấy đơn vị này cũng liên hệ với thành ý tài trợ veston cho các chàng trai vàng của bóng đá Việt Nam diện trong buổi lễ vinh danh.

“Thời buổi hiện nay không năng động, không nhanh, không thể tồn tại,” bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, tổng giám đốc tổng công ty May 10 - CTCP (Garco 10) nói trong buổi trả lời phỏng vấn Forbes Việt Nam. Có vinh dự tài trợ veston cho các tuyển thủ U23, May 10 đứng trước thách thức hoàn thành hơn 30 bộ veston “hàng thửa” trong thời gian vỏn vẹn vài ngày. Nhờ làm chủ kỹ thuật, công ty cũng hoàn thành nhiệm vụ. Công ty may có bề dày hơn 70 năm xây dựng bản sắc riêng – “văn hóa May 10” như cách gọi nội bộ, gói gọn trong vài chữ: sáng tạo, tiết kiệm, đoàn kết.

Năm 2017, giá trị xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam đạt 31 tỉ đô la Mỹ, đứng thứ hai, chỉ xếp sau xuất khẩu điện thoại và linh kiện theo thống kê của tổng cục Hải quan. Tuy nhiên nếu giá trị 45 tỉ đô la Mỹ xuất khẩu điện thoại và linh kiện sản phẩm đến gần như toàn bộ từ khối doanh nghiệp FDI thì với ngành dệt may, khá cân bằng tỉ lệ đóng góp của khối doanh nghiệp FDI và nội địa những năm qua xoay quanh mức 60:40. May 10 nằm trong nhóm công ty dẫn đầu ngành may mặc Việt Nam, có năng lực gia công các sản phẩm thời trang có độ phức tạp cao.

Theo thống kê của tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), sản phẩm thời trang luôn chiếm khoảng 90% cơ cấu xuất khẩu ngành dệt may, số còn lại thuộc về xơ sợi và phụ liệu ngành may. Báo cáo về ngành dệt may của công ty chứng khoán FPTS cho biết, chuỗi giá trị ngành may toàn cầu gồm năm khâu: thiết kế; sản xuất nguyên, phụ liệu; may; xuất khẩu – marketing và phân phối sản phẩm. Tuy nằm trong tốp 10 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết tham gia ở mắt xích may gia công, công đoạn có hàm lượng giá trị thấp nhất, chiếm 10 – 15% tỉ trọng lợi nhuận của toàn chuỗi.

Văn hóa của May 10 - ảnh 3

“Một trong những vấn đề lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam là giá trị gia tăng thấp. Các doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào hàng CMT, tỉ trọng FOB và ODM chưa cao. May 10 là một trong các công ty mạnh nhất về xuất khẩu dệt may của Việt Nam,” công ty chứng khoán BSC nhận xét về May 10 trong báo cáo về ngành may Việt Nam. Theo BSC, cơ cấu sản xuất của May 10 ở các phương thức CTM (hình thức sơ khai nhất, đối tác chuyển cho đơn vị gia công nguyên liệu và sau đó hoàn trả thành phẩm) là 35%; FOB (doanh nghiệp may chủ động mua nguyên liêu, bán thành phẩm) là 60% và ODM  là 5%, so với con số tương ứng trung bình của các doanh nhiêp dệt may thuộc Vinatex là 55%, 35% và 10%. Ở tiêu chí doanh thu năm 2017, May 10 nằm trong số các doanh nghiệp may mặc nội địa lớn nhất với 3.028 tỉ đồng doanh thu, thấp hơn Việt Tiến (8.858 tỉ đồng), Nhà Bè (4.433 tỉ đồng), Hòa Thọ (3.877 tỉ đồng) nhưng cao hơn Phong Phú (2.865 tỉ đồng) – những doanh nghiệp dẫn đầu ở ngành dệt may Việt Nam.

Xét về cơ cấu, 80% sản phẩm của May 10 hướng ra thị trường xuất khẩu, 20% cho tiêu dùng nội địa. Ba thị trường xuất khẩu chính của công ty là Mỹ, EU, Nhật Bản chiếm tỉ trọng lượt 45%, 40% và 10%. Cổ phần hóa vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình của May 10 những năm sau đó đạt khoảng 15 - 20%/năm. Tính đến cuối năm 2017 công ty có tổng tài sản 1.364 tỉ đồng với năng lực sản xuất 30 triệu sản phẩm mỗi năm.

Niềm tự hào của May 10 là veston xuất khẩu cho các thương hiệu lớn, cho dù sản phẩm sơ mi nam của họ được biết đến rộng rãi ở thị trường trong nước. “Trên thế giới số lượng các quốc gia sản xuất được veston cao cấp không quá hai bàn tay. Trong số các quốc gia không phải doanh nghiệp nào cũng sản xuất được veston,” bà Huyền nói.

Văn hóa của May 10 - ảnh 4

Theo bà Bùi Thúy Hạnh, giám đốc xí nghiệp ves ton May 10 - Hà Nội, nếu sơ mi truyền thống có 25 – 26 chi tiết thì độ khó phức tạp của veston gấp nhiều lần, với trên 100 chi tiết, và công nghệ may đo hoàn toàn khác. Việt Nam, quốc gia nằm trong nhóm dẫn đầu về gia công xuất khẩu sản phẩm thời trang cũng chỉ có vài đơn vị như Nhà Bè, Việt Tiến, May 10, Hòa Thọ, An Phước… đạt tới trình độ gia công cho các thương hiệu lớn. Bà Hạnh khẳng định sản phẩm của May 10 “có nét khác ở đường kim, mũi chỉ.”

Năm 2004, May 10 bắt đầu học sản xuất veston với sự hỗ trợ của May Nhà Bè, một trong các doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên gia công veston. Bước khởi đầu của May 10 không dễ dàng khi dây chuyền may veston giá trị ba triệu đô la Mỹ vượt quá khả năng tài chính của công ty mà quy mô doanh thu lúc đó mới vào khoảng 20 triệu đô la Mỹ. Để tiết kiệm May 10 chọn giải pháp đầu tư mới các bộ phận chính, phần còn lại chấp nhận sử dụng loại đã qua sử dụng. Dù Nhà Bè giới thiệu những khách hàng đầu tiên, May 10 phải học hỏi, cải tiến rất nhiều để từng bước làm chủ công nghệ may veston, mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật phức tạp bậc nhất trong các sản phẩm thời trang.

Văn hóa của May 10 - ảnh 5

năm làm việc trầy da tróc vảy” theo lời các lãnh đạo công ty, hiện tại, May 10 có khả năng cung ứng 150 ngàn bộ veston mỗi tháng cho đối tác. Trung bình mỗi đơn hàng May 10 thực hiện 1.000 – 2.000 bộ, cao nhất là 5.000 bộ. “May 10 đi vào độ tinh, hợp tác các thương hiệu nổi tiếng,” bà Huyền nói. Các thương hiệu quốc tế Brooks Brothers, Giorgio Armani, Hugo Boss, Gucci... đã hợp tác với công ty.

Song song với sản xuất đơn hàng lớn, từ năm 2008, May 10 cung cấp dịch vụ may đo veston cá nhân. Dịch vụ thu hút nhiều chính khách Việt Nam, đại sứ nước ngoài. Khác với cách dựng veston truyền thống, trải qua các bước đo – dựng – thử – may – thử lần cuối, kỹ thuật dựng veston của May 10 bỏ qua bước thử. Từ chối tiết lộ bí quyết nhưng bà Huyền nói: “Nó là quá trình tìm hiểu, thử nghiệm nhiều giải pháp khác nhau.” Vào dịp cuối năm, dịch vụ này của May 10 có khoảng 2.000 đơn hàng mỗi tháng.

Việc quản lý sản xuất của May 10 chặt chẽ, kiểm soát đến từng giây của quy trình. Vì sao phải chi ly đến từng giây? Bà Thúy Hạnh lý giải để hoàn thiện một sản phẩm cần hàng trăm công đoạn, có những thao tác ngắn, tính bằng giây. “Khi đào tạo cho công nhân cũng như khi cải tiến quy trình sản xuất sản phẩm, mình phải ghi lại hình ảnh, thao tác nào thừa loại bỏ dần,” bà Hạnh nói về quá trình tăng năng suất lao động. Thời gian sản xuất một bộ veston của May 10 từ 8.192 giây ban đầu giảm xuống còn 6.695 giây, 5.282 giây và còn 4.206 giây vào năm 2017.

Sơ mi, sản phẩm nổi tiếng nhất của May 10 ở thị trường nội địa có sự cải tiến mạnh mẽ để công nhân may tăng thu nhập sáu lần trong cùng thời gian. Năm 1998, May 10 mất 2.424 giây để may một chiếc sơ mi và hiện nay thời gian là 696 giây, giảm gần bốn lần. “Để giảm như vậy là cả lộ trình, mình phải trải qua bước 1.889 giây, 1.120 giây rồi còn 696 giây,” tổng giám đốc của May 10 nói. Bà Huyền, người gắn bó với công ty 35 năm giải thích: “Thứ nhất kết hợp với công nghệ. Thứ hai là áp dụng khoa học quản lý. Trong khoa học quản lý, có quản lý con người, quản lý sản xuất, kích thích sáng tạo của người lao động...”

Công nghệ giúp May 10 rút ngắn thời gian sản xuất. 20% công đoạn sản xuất veston được áp dụng công nghệ tự động hóa từ máy cắt tự động cho đến may vắt ve tự động, ngả các loại túi áo, quần bằng máy lập trình tự động, thùa khuyết đầu tròn, khuyết tay tự động, là ủi ép tự động. Việc bố trí lại sản xuất có những bước tiến dài về loại bỏ “thao tác thừa,” chẳng hạn hiện nay công nhân rải vải di chuyển 3,3 km/ngày, giảm hơn 1/2 quãng đường trước đây. Loại bỏ thao tác thừa, May 10 tổ chức thi đua, chọn các cá nhân xuất sắc nhất, phổ biến thao tác chuẩn, loại bỏ động tác thừa. 

 “May 10 là doanh nghiệp có lịch sử lâu đời trong ngành dệt may Việt Nam,” ông Lê Tiến Trường, tổng giám đốc Vinatex, cổ đông lớn kiểm soát hơn 36% cổ phần May 10 nói. Tiền thân là xí nghiệp quân nhu được thành lập năm 1946, trước ngày thống nhất đất nước xí nghiệp May 10 chủ yếu sản xuất quân trang quân đội. Bước sang thập niên 1980 công ty chủ yếu sản xuất đồ bảo hộ lao động và sản xuất hàng may mặc cho thị trường Đông Âu. Ở thời kỳ đổi mới, bước đột phá thứ nhất của May 10 vào năm 1994, hai năm sau khi chuyển đổi hoạt động theo hình thức công ty, khi bắt đầu hợp tác với hãng Seidensticker (Đức) may sơ mi xuất khẩu và sau đó đầu tư xây dựng các nhà máy mới.

Văn hóa của May 10 - ảnh 6

Cú hích đột phá thứ hai của May 10 với sản phẩm veston cao cấp và sau đó trở thành đối tác tin cậy của nhiều thương hiệu danh tiếng như T.M.Lewin, Marks & Spencer, Next, Burton, Banana Republic, J.Crew, Moss Bros, Aoyama - Eagle. “May 10 đặc biệt quan tâm đến công tác tiết kiệm, công ty có chút cá tính của phụ nữ chỉn chu và chi tiết,” bà Bùi Quý Dân, chủ tịch công đoàn May 10 nói. Buổi trả lời phỏng vấn của lãnh đạo May 10 diễn ra tại phòng họp hội đồng quản trị có nhiều lãnh đạo nữ của công ty tham dự. Trong phòng, trừ tấm thảm sàn đã được thay mới, toàn bộ điều hòa, bàn ghế, đèn chùm… đều đã sử dụng trên 20 năm.

“Cá tính phụ nữ” của May 10 với ý thức tiết kiệm hiện diện ở khắp nơi. Không chỉ trong sản xuất, ở khối văn phòng quy định giấy in cố gắng sử dụng cả hai mặt, rót nước uống chỉ vừa đủ dùng, gặp đối tác, người tiếp khách tự châm nước không cần đến tạp vụ, sau mỗi buổi họp những người tham dự đẩy ghế ngay ngắn và tự chuyển cốc chén đã sử dụng về phía đầu bàn, người rời phòng cuối cùng là người tắt điện… “Ý thức tiết kiệm thường trực trong mỗi con người May 10,” bà Dân nói.

“‘Các cụ nói ‘buôn tàu, bán bè không bằng ăn dè hà tiện.’ Thông điệp chúng tôi muốn chuyển tải: Tiết kiệm đến mức tối đa, cố gắng loại bỏ tối đa các thao tác thừa không tạo ra giá trị,” bà Huyền lý giải. Gắn bó với May 10 từ năm 1983, bắt đầu với vị trí công nhân đứng chuyền, từng bước cô công nhân được cất nhắc qua nhiều vị trí: tổ trưởng tổ sản xuất, quản đốc rồi phó giám đốc chứng kiến sự thay da đổi thịt của công ty khi mở thêm các nhà máy ở Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình… Năm 2005, May 10 cổ phần hóa. Một năm sau đó bà Huyền được bổ nhiệm giữ chức tổng giám đốc cho tới nay.

Trong gia đình, bà Huyền là thế hệ thứ hai gắn bó với May 10, nơi có khá nhiều gia đình gắn kết với doanh nghiệp đến thế hệ thứ tư. Giống như bà Huyền, nhiều công nhân và lãnh đạo công ty này lớn lên trong trường mẫu giáo May 10, ngôi trường thành lập năm 1956.

Với đặc thù là ngành thâm dụng nhiều lao động với công nhân nữ chiếm tỉ lệ áp đảo, May 10 vẫn duy trì mô hình “nhà trẻ trong xí nghiệp,” khá phổ biến thời bao cấp. Theo cô Nguyễn Thị Hồng, hiệu trưởng trường mầm non, trường có chín lớp với khoảng 300 học sinh, trường nhận trông trẻ sáu tháng. Công ty hỗ trợ mỗi bé 300 ngàn đồng/tháng, mức học phí trên một triệu đồng, tương đương khoảng 60% so với học phí của các trường tư thục trên địa bàn dù trường mầm non là trường đạt chuẩn kiểm định đầu tiên trong khu vực. Nét tiết kiệm và kỷ luật của những nhà quản lý nữ truyền xuống cả thế hệ kế cận: “rửa tay xà phòng lấy vừa đủ, sử dụng ít nước,” “tiên học lễ, hậu học văn, phải biết nói lời cảm ơn bố mẹ, kính trọng người già, tri ân người giúp đỡ mình”. Theo kế hoạch với mỗi nhà máy công ty có 2.000 công nhân, May 10 sẽ mở một trường mầm non cho mục tiêu nội bộ.

Văn hóa của May 10 - ảnh 7

Từ trái sang: Nhà trẻ May 10, tổ chức phiên chợ tiết kiệm, trao sách cho gia đình công nhân.

Bà Bùi Quý Dân nói, May 10 có lẽ là doanh nghiệp hiếm hoi trên cả nước có nhà trông trẻ, có trường đào tạo nghề, xây ký túc xá 600 chỗ cho sinh viên và công nhân. Năm 2008, May 10 nâng cấp trường công nhân kỹ thuật may và thời trang thành trường cao đẳng dạy nghề Long Biên với hơn 600 học viên, tuyển sinh tự do, tốt nghiệp không buộc làm cho May 10. “Mình đào tạo theo nhu cầu. Về tính kỷ luật lao động, mình cũng rèn giũa như doanh nghiệp. Con đường sinh viên vào doanh nghiệp rất gần,” bà Dân, phó hiệu trưởng trường cao đẳng nghề nói. Theo vị chủ tịch công đoàn, nữ lãnh đạo gắn bó với công ty hơn 30 năm, thu nhập trung bình của công nhân May 10 tăng khoảng 10% mỗi năm, hiện tại khoảng 7,8 triệu/tháng, “so với ngành khác thì bình thường nhưng trong ngành dệt may thì ở tốp đầu.” Giữ “văn hóa riêng”, May 10 quy định không nhận lại các công nhân đã bỏ công ty ra đi.

Sau khi đưa hàng lên bán ở Amazon vào năm 2017, đầu năm 2018 công ty may đang có 134 điểm phân phối vật lý này đưa trang bán hàng online của họ vào hoạt động. Ngành thời trang chịu áp lực rất cao về sự thay đổi. May 10 cũng không ngoại lệ khi đối tác ngày càng yêu cầu cao hơn, thời gian giao hàng ngắn lại, sản phẩm ngày càng phức tạp, số lượng ngày càng ít đi, giá ngày càng cạnh tranh.

Đâu là điểm mạnh và điểm yếu của công ty? “Cái bằng lòng nhất và cũng chưa hài lòng nhất là tình người. Mọi người coi nhau như gia đình, đây là điều tốt, là sự đoàn kết. Ấm áp tình người nhưng kỷ cương, kỷ luật lao động duy trì. Làm được điều này không dễ. Phải giữ văn hóa May 10 nhưng cũng phải hiệu quả,” bà Huyền nói.

Văn hóa của May 10 - ảnh 8