Đi cùng người khổng lồ - ảnh 1

Đi cùng người khổng lồ - ảnh 2

ầu năm 2018, lưu lượng xe tải ra vào nhà máy của SungJu Vina đặt tại khu công nghiệp Minh Hưng Hàn Quốc, huyện Chơn Thành, Bình Phước trở nên tấp nập hẳn. Bên cạnh các xe chở nguyên liệu, phụ liệu và thành phẩm là các xe thi công công trình, hay chở vật liệu xây dựng nối đuôi thành hàng dài. Nhà máy bốn năm tuổi này đang trở nên quá tải trước yêu cầu đặt hàng số lượng lớn khiến công ty phải đầu tư thêm các nhà xưởng mới.

Bên trong dãy nhà xưởng lắp ráp loa tivi, hai băng chuyền linh kiện đều đặn chạy từ bộ phận lắp ráp, dán keo, khử từ biến các cụm linh kiện thành những chiếc loa nhỏ, trước khi qua máy nạp từ và các bộ phận kiểm tra. Đi một vòng từ đầu chuyền đến cuối chuyền, ông Nguyễn Văn Dũng, cán bộ tổ chức chỉ về khu vực sản xuất linh kiện, dây loa nằm ở góc phân xưởng, vốn là của đối tác đặt tạm và cho biết: “Do chưa có nhà máy, họ phải đặt tạm ở đây cho đến khi giai đoạn mở rộng hoàn tất.”

Đầu tư vào Việt Nam từ giữa năm 2014, đến tháng 2.2015, nhà máy SungJu Vina bắt đầu đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 3,5 triệu đô la Mỹ. Là nhà máy thứ tư của SungJu ở nước ngoài, SungJu Vina nhanh chóng trở thành đơn vị sản xuất có quy mô nhất của SungJu trên toàn cầu cả về số lượng đơn vị thành phẩm lẫn tốc độ phát triển nhanh, ông Song Woo You, giám đốc nhà máy ở Việt Nam cho biết. Lý do đơn giản: Họ là nhà cung ứng chính về loa cho các thiết bị điện tử thuộc Samsung. Khi Samsung tăng quy mô đầu tư vào Việt Nam, đồng nghĩa với việc các nhà cung ứng của họ có nhiều đơn hàng hơn.

Sự hiện diện đầu tiên của Samsung tại Việt Nam thông qua liên doanh Samsung Vina, sau này được Samsung lần lượt mua lại vốn cổ phần từ đối tác Việt Nam để trở thành công ty Samsung Vina Electronics (Savina), 100% vốn của Samsung. Năm 2007, Samsung công bố đầu tư vào Bắc Ninh, phía Bắc Việt Nam để sản xuất điện thoại di động, với số vốn đầu tư ban đầu 600 triệu đô la Mỹ. Sau 11 năm kể từ khi công bố đầu tư sản xuất tại Việt Nam, Samsung đầu tư khoảng 17 tỉ đô la Mỹ, hình thành các cụm công nghiệp sản xuất là Samsung Electronics Việt Nam (SEV) ở Bắc Ninh, Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT), Samsung Display Việt Nam (SDV) và Samsung Vietnam Electronics Ho Chi Minh city Complex (SVHC). Trong khi ba cụm sản xuất đầu nằm ở khu Bắc Ninh và Thái Nguyên, cụm sản xuất cuối nằm ở phía Nam, chuyên về đồ điện tử, gia dụng. Tổng doanh số của ba công ty đặt tại phía Bắc của Samsung là 65,85 tỉ đô la Mỹ, mang lại lợi nhuận tương ứng 6,2 tỉ đô la Mỹ. SVHC năm 2017 đạt doanh số 3,94 tỉ đô la Mỹ, lợi nhuận 302 triệu đô la Mỹ.

Đi cùng người khổng lồ - ảnh 3

Năm 2017, điện thoại, điện tử là hai nhóm mặt hàng có kim ngạch tính bằng đơn vị hàng chục tỉ đô la Mỹ. Tổng kim ngạch xuất khẩu của hai nhóm này chiếm 71,2 tỉ đô la Mỹ, trong đó khối doanh nghiệp FDI chiếm tương ứng là 99,67% và 96,41%. Tăng trưởng doanh số của doanh nghiệp cho đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của hai nhóm ngành này đều cho thấy thị trường đang ở chiều hướng tăng. Việc có mặt trong chuỗi sản xuất của ngành điện tử, viễn thông trở thành cơ hội lớn cho doanh nghiệp.

“Chúng tôi là nhà sản xuất loa tivi số 1 thế giới,” ông Song, 40 tuổi cười nói. Vì sao? “Đơn giản là chúng tôi cung ứng 70% loa cho TV Samsung. Khi họ trở thành số 1 thế giới, chúng tôi cũng trở thành số 1.” Vị thế tuyệt đối có thể không như lời giải thích mang tính hàm nghĩa của ông Song, song vị thế ngành của SungJu là điều khó gạt bỏ. Samsung năm 2017, theo thống kê trên Statistics, chiếm 20% thị phần TV LCD, bỏ xa người đồng hương của họ là LG, với thị phần tương ứng 12,1%. Tính ra, 70% lượng cung ứng loa của Samsung đến từ SungJu cũng đủ cho họ chiếm 14% số lượng loa lắp trên các TV LCD bán ra trên thị trường.

Đi cùng người khổng lồ - ảnh 4

SungJu bắt đầu cung ứng sản phẩm cho Samsung từ năm 1988. Lịch sử phát triển của công ty hiện có ba nhà máy ở nước ngoài này, sau khi đóng cửa nhà máy ở Mexico, gắn liền với các bước phát triển của Samsung. Khi Samsung vươn ra thị trường nước ngoài, họ cũng đi cùng. “Khi chúng tôi mở nhà máy ở Mexico, Samsung giúp đỡ nhiều như hướng dẫn kỹ thuật, công nghệ quản lý, huấn luyện quy trình sản xuất,” ông Song, người phụ trách dự án ở Mexico kể.

Không riêng gì Mexico, ở các nước, nơi các công ty đa quốc gia có dự án lớn, việc phát triển đối tác cho chuỗi sản xuất như Samsung áp dụng với SungJu nằm trong các ưu tiên hàng đầu khi giảm thiểu chi phí logistics, chủ động nguồn cung ứng sản phẩm. Từ khi xuất hiện các dự án quy mô lớn trong ngành điện tử, viễn thông, máy tính ở Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài như Samsung, LG, Canon, Panasonic, Sharp đều có kế hoạch phát triển các nhà cung ứng. Tháng 10.2017, lãnh đạo SVHC có quy mô đầu tư hai tỉ đô la Mỹ cho biết, họ đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ có 50 doanh nghiệp Việt Nam cung ứng trực tiếp cho Samsung.

Trở thành đối tác cung ứng sản phẩm, doanh nghiệp không chỉ có thêm bạn hàng, mà còn được đào tạo, huấn luyện để nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong năm 2017, có sáu doanh nghiệp trong nước như Manutronics Việt Nam (Bắc Ninh), Tiến Thành (Bắc Ninh), Công nghệ Bắc Việt (Bắc Ninh), Nhật Minh (Bình Dương), In Minh Mẫn (TP.HCM), Vinavit (TP.HCM) được các chuyên gia của Samsung tư vấn cải tiến quy trình sản xuất. Theo ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc tổ hợp Samsung Điện tử Việt Nam, chương trình tư vấn cải tiến doanh nghiệp đã giúp 26 doanh nghiệp Việt Nam đạt được kết quả tốt trong “quá trình cải tổ doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh.” Chẳng hạn, công ty Manutronics đã giảm tỉ lệ hàng lỗi công đoạn kiểm tra được 63%, giảm chi phí tồn kho nhựa 35%, tỉ lệ thất thoát thiết bị giảm đến 82%. Hay như tỉ lệ tồn kho của công ty Bắc Việt trong lĩnh vực khuôn mẫu chính xác đã giảm từ 37% trong tháng 8 xuống còn 24% trong tháng 11. Tuy đang trong quá trình xem xét để ký hợp đồng cung ứng bu lông, ốc vít cho Samsung, công ty Vinavit đã nâng thời gian máy chạy thực tế từ 65% lên 84,3%.

Không tiết lộ doanh thu cụ thể từ hợp đồng cung ứng cho Samsung, ông Song chỉ cho biết, trung bình mỗi ngày có hai xe container chở hàng từ Bình Phước xuống khu công nghệ cao TP.HCM để giao hàng. Theo ước tính ban đầu của lãnh đạo SungJu Hàn Quốc, mất khoảng 5 năm để nhà máy có thể hoạt động toàn công suất. Sau ba năm hoạt động, họ phải điều chỉnh kế hoạch để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Ông Song cho biết, giữa năm 2018, SungJu sẽ đưa vào vận hành nhà máy thứ hai trong khuôn viên rộng 10 héc ta đặt ở khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Phước. Lúc đó, quy mô công nhân “của chúng tôi và sáu nhà sản xuất vệ tinh khác,” theo lời ông Song, sẽ đạt mức 2.000 người, tăng hơn 50% so với quy mô đầu năm nay. Mỗi tháng trung bình cụm nhà máy đặt tại Bình Phước này xuất xưởng 2,4 triệu cặp loa. Trong đó, cứ một cặp loa giao cho nhà máy Samsung ở Việt Nam, bốn cặp còn lại xuất sang các nhà máy khác của Samsung đặt tại châu Âu, Mỹ.

Đi cùng người khổng lồ - ảnh 5

Nhịp độ đầu tư, mở rộng sản xuất của một cụm sản xuất linh kiện ở Bình Phước, nơi cách nhà máy sản xuất chính 200km, phần nào thể hiện được nhịp độ thu hút đầu tư, sản xuất ở khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP). Trong bản tin hoạt động của SHTP, liên tục xuất hiện những cái tên mới, với một điểm chung: phụ trợ cho Samsung. Đầu năm 2016, Auremaex Precision Plastics Việt Nam, công ty 100% vốn của Malaysia, nhận giấy phép đầu tư 21 triệu đô la Mỹ vào SHTP. Chưa đầy bảy tháng sau, bên cạnh phân xưởng hai đang xây dựng, phân xưởng 1 đã cho ra các vỏ sau của TV để cung ứng cho Samsung. Cuối năm 2017, khu công nghệ cao trao giấy chứng nhận đầu tư cho New – Hanam để xây dựng nhà máy sản xuất động cơ điện cho các thiết bị của Samsung. Trong năm nay, Daeyuong Electronics Vina chuyên cung ứng linh kiện điện tử, bo mạch kỹ thuật cao theo công nghệ SMT (Surface Mounting Technology) được cấp phép đầu tư, với tổng vốn 63 triệu đô la Mỹ. Bà Nguyễn Thị Minh Thu, trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của SHTP cho biết, họ liên tục nhận được các đề nghị khảo sát, cũng như tìm cơ hội đầu tư từ nhiều doanh nghiệp công nghệ, trong đó phần lớn có liên quan đến Samsung.

SungJu có lợi thế phát triển trong thời điểm Samsung bắt đầu phát triển ở Hàn Quốc nên quãng thời gian đi cùng người khổng lồ đủ lâu để họ kịp lớn, tích lũy tài lực, vật lực và quan trọng hơn là nhân lực. Bên cạnh các nhà máy sản xuất ở Trung Quốc và Việt Nam, họ có trung tâm nghiên cứu ở Hàn Quốc, “gần các trung tâm nghiên cứu của Samsung,” theo lời ông Song. Với doanh nghiệp điện tử Việt Nam, con đường phát triển sẽ theo hướng nào?

Thông tin tổng hợp từ các doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất của Samsung cho thấy, có một số nhà cung ứng cấp 1 chủ yếu làm về in ấn, bao bì như Goldsun, sản xuất và xuất nhập khẩu bao bì Thăng Long, bao bì Việt Hưng, một số doanh nghiệp cung ứng linh kiện như Thành Long làm về bảng mạch in (PCB), Autotech Việt Nam cung ứng cánh tay máy (robot) song không phải nhiều. Có lẽ vì vậy mà chính sách phát triển công nghệ hỗ trợ của Việt Nam đặt mục tiêu hai giai đoạn. Trong đó giai đoạn đến năm 2020 chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, bên cạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý phù hợp với yêu cầu chuỗi sản xuất toàn cầu. Trong giai đoạn 2020 – 2025 là hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất, thử nghiệm linh kiện, phụ tùng.


Đi cùng người khổng lồ - ảnh 6
Trong khi ngành công nghiệp phụ trợ đang trong quá trình hình thành và phát triển, hiệu ứng hòn tuyết lăn từ các dự án quy mô lớn của Samsung, LG, Intel sẽ thu hút các nhà cung ứng thiết bị của nước ngoài, để thay thế dần nhập khẩu linh kiện, thiết bị. Thống kê xuất, nhập khẩu của bộ Công – Thương cho thấy, nhập linh kiện và sản phẩm điện tử từ Đông Bắc Á đạt 29,7 tỉ đô la Mỹ trong năm 2017, linh kiện và điện thoại là 15,3 tỉ đô la Mỹ. Thống kê chưa đầy đủ của UN Comtrade, năm 2016 tổng kim ngạch linh kiện điện tử, viễn thông nhập khẩu là 37,9 tỉ đô la Mỹ, trong khi con số tương ứng về xuất khẩu là 19,4 tỉ đô la Mỹ. Hầu hết các linh kiện cơ bản như tụ điện, điện trở, mạch in, mạch điện tử tích hợp đều nhập ròng, nghĩa là giá trị nhập vào lớn hơn xuất đi. Riêng mặt hàng bóng bán dẫn có cơ cấu 1:1. Cơ hội tham gia thị trường cung ứng linh kiện quy mô lớn như vậy qua thời gian sẽ giúp hình thành các công ty sản xuất, cung ứng linh kiện, thiết bị, gia công lắp đặt. Một điều kiện cần cho các dạng công ty không nhà máy (Fabless), chuyên về thiết kế sản phẩm, một công đoạn có giá trị cao trong chuỗi sản xuất của ngành. “Hiện nay có thể mua linh kiện, sản phẩm và đặt gia công sản xuất ngay tại Việt Nam,” ông Lê Văn Chính, sáng lập công ty Sơn Ca Media, người có hơn 30 năm gắn bó với ngành sản xuất điện tử nói. Giá thành sản xuất ở Việt Nam, theo ông Chính, tuy cao hơn so với đặt ở nước ngoài, nhưng “kiểm soát được về quy trình sản xuất, chất lượng ổn định.” 

Đi cùng người khổng lồ - ảnh 7