Chúng ta cần làm gì để thực sự xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh và hoạt động chuyên nghiệp.
Tái cơ cấu ngành ngân hàng chặng đường chông gai - ảnh 1

Phạm Hồng Hải, giám đốc ngân hàng HSBC Việt Nam

Gần đây, báo chí đưa tin một vài vụ án ngân hàng với một số cá nhân phải chấp nhận mức án rất cao, tổn thất cho xã hội lớn khi gây thất thoát hàng ngàn tỉ đồng, niềm tin của xã hội vào hệ thống ngân hàng bị suy giảm mạnh. Câu hỏi đặt ra tại sao lại có những sai lầm đó, sức khỏe thực tế của ngành ngân hàng như thế nào và chúng ta cần làm gì để thực sự xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh và hoạt động chuyên nghiệp.

Trên thực tế có một số ông chủ ngân hàng xuất thân từ những doanh nhân kinh doanh rất thành công. Họ nhìn thấy cơ hội tham gia vào hệ thống ngân hàng để tận dụng được cơ hội tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam vào những năm 2000. Tuy nhiên, xuất thân là những nhà kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và sản xuất, một vài người vẫn mang quan điểm của người kinh doanh mua bán trên thương trường vào điều hành ngân hàng. Các ông chủ này đều kỳ vọng đẩy tăng trưởng ngân hàng lên rất cao giống như họ kinh doanh trong các lĩnh vực trước đây.

Ngân hàng là một ngành hết sức đặc thù, hoạt động dựa vào niềm tin. Do đó, đồng tiền của người gửi tiền phải được quản trị hết sức cẩn trọng và quản trị rủi ro được đặt lên hàng đầu. Nếu người gửi tiền không còn niềm tin vào ngân hàng, ngân hàng có thể sẽ bị đổ vỡ. 

Ngoài ra, trên thực tế không loại trừ một số trường hợp lập ra ngân hàng nhằm mục đích tài trợ vốn cho các doanh nghiệp sân sau của chủ sở hữu. Luật Tổ chức tín dụng đã cấm việc cho vay các doanh nghiệp sở hữu bởi các thành viên hội đồng quản trị. Khi nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ như trong thời kỳ 2006 – 2008, cách thức này sẽ tạo lợi nhuận khủng khiếp cho một số ông chủ ngân hàng, do họ có một nguồn tiền dồi dào để tài trợ cho các doanh nghiệp của mình để đầu tư ồ ạt. Tuy nhiên, khi nền kinh tế gặp khó khăn như trong thời kỳ 2009 – 2014, các khoản cho vay này không thu hồi được và trở thành nợ xấu.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành hàng loạt các công cụ giám sát từ xa, thanh tra và kiểm tra thường xuyên các ngân hàng để ngăn chặn tình trạng các ngân hàng lách luật. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra vi phạm dẫn đến các vụ án trong ngành ngân hàng. Ngoài ra, các số liệu báo cáo của một số các ngân hàng có thể vẫn bị méo mó dẫn đến việc kiểm soát từ xa dựa trên số liệu báo cáo không thực sự có hiệu quả. Lợi ích nhóm cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém.

Hiện nay, ngành ngân hàng vẫn đang gánh vác trọng trách quá lớn trên đôi vai chưa khỏe. Đó là cung ứng hơn 75% vốn cho toàn nền kinh tế bao gồm cả vốn trung và dài hạn. Điều này đã và sẽ tạo rủi ro rất lớn về thanh khoản và rủi ro tín dụng cho các ngân hàng.

Vậy chúng ta cần làm gì để thực sự xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh? Đây hoàn toàn là một công việc hết sức khó khăn khi nguồn lực tài chính của đất nước không đủ mạnh và công việc này không thể được giải quyết trong ngắn hạn. Công việc này đòi hỏi sự kiên định, tầm nhìn dài hạn và sự hỗ trợ của cả hệ thống chính trị.

Đối với các giải pháp ngắn hạn, người viết bài cho rằng Chính phủ và NHNN cân nhắc các giải pháp thị trường để các ngân hàng yếu kém sẽ bị đào thải bởi thị trường vì họ sẽ không còn huy động được từ dân cư và doanh nghiệp.  Các ông chủ ngân hàng sẽ phải suy nghĩ rất cẩn thận do họ có thể mất toàn bộ số vốn khi đầu tư vào ngân hàng.

Hiện nay, ngành ngân hàng vẫn đang gánh vác trọng trách quá lớn trên đôi vai chưa khỏe. Đó là cung ứng hơn 75% vốn cho toàn nền kinh tế bao gồm cả vốn trung và dài hạn. Điều này đã và sẽ tạo rủi ro rất lớn về thanh khoản và rủi ro tín dụng cho các ngân hàng.

Về giải quyết nợ xấu, kinh nghiệm trên thế giới cho thấy chúng ta cần vốn để giải quyết dứt điểm. Vốn có thể sẽ cần đi từ ngân sách và từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong bối cảnh hiện nay, sẽ hiếm có nhà đầu tư nào dám nhảy vào mua các ngân hàng yếu kém vì họ đều biết vốn chủ sở hữu của các ngân hàng này có khả năng đã âm. Các nhà đầu tư sẽ cần có sự hỗ trợ về vốn của Chính phủ để có thể tiếp quản các ngân hàng này. Trong bối cảnh hiện nay, việc chậm xử lý nợ xấu tại các ngân hàng sẽ càng tạo thêm nợ xấu và gây tổn thất lớn cho xã hội.

Đối với giải pháp trung và dài hạn, chúng ta cần nhanh chóng xây dựng một thị trường vốn (trái phiếu và cổ phiếu) lành mạnh để gánh vác trọng trách cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, cho phép ngân hàng tập trung vào cung ứng chủ yếu là vốn ngắn hạn để phù hợp với thanh khoản thực tế của ngân hàng.

Xây dựng thị trường vốn đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn, sự phối hợp của nhiều bộ ngành (ví dụ NHNN, bộ Tài chính, tổng cục Thuế v.v). Chúng ta vừa phải tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách của ngành ngân hàng như nợ xấu, thanh khoản trong ngắn hạn nhưng cũng phải gấp rút xây dựng một nền tảng bền vững để phát triển trong tương lai. Trong một thị trường trái phiếu lành mạnh, cần có nhiều nhà đầu tư như các quỹ hưu trí tự nguyện và các quỹ đầu tư nước ngoài để tạo sự bền vững và đa dạng của các khoản đầu tư. Hiện nay, ngân hàng thương mại mua đến hơn 85% giá trị trái phiếu phát hành trên thị trường. Đường cong lãi suất chuẩn của trái phiếu chính phủ cần được xây dựng để làm cơ sở định giá cho trái phiếu doanh nghiệp.

Việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng cần được chuẩn hóa và công bố thông tin minh bạch để tránh trường hợp các ngân hàng thu xếp phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp của mình và cũng là nhà đầu tư duy nhất cho đợt phát hành đó. Các sản phẩm trái phiếu cũng cần đa dạng hóa như trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, trái phiếu xanh (green bond) cho các dự án phát triển bền vững tạo môi trường sạch, trái phiếu không trả lãi (zero coupon bond) để phù hợp với các nhu cầu khác nhau của nhà đầu tư.

Ngoài ra, nhà đầu tư cũng cần các công cụ phòng chống rủi ro về tỉ giá và lãi suất cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để bảo hiểm rủi ro thị trường khi đầu tư vào trái phiếu. Hiện nay, theo quy định quản lý ngoại hối của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài chưa được sử dụng các công cụ phòng tránh rủi ro về tỉ giá như sản phẩm kỳ hạn hoặc hoán đổi để quản trị rủi ro. Để phát triển các công cụ này, chúng ta cần gấp rút xây dựng được đường cong lãi suất chuẩn ngắn hạn của thị trường.

Bên cạnh đó, thị trường cổ phiếu cũng cần thêm nhiều hàng hóa có chất lượng. Nhà đầu tư nước ngoài rất mong muốn tham gia vào thị trường vốn Việt Nam nhưng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tối đa của các doanh nghiệp tốt hầu như đã được sử dụng hết.  Chúng ta cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh mà Nhà nước không cần nắm cổ phần chi phối. Tiến trình này sẽ giúp tạo vốn để xử lý nợ xấu, tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và khuyến khích vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam.  

Ngoài ra, chúng ta nên xem xét áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) và đẩy nhanh áp dụng chuẩn mực Basel 2 quy định vốn tối thiểu cho các ngân hàng. Khi Việt Nam đã hội nhập với quốc tế, việc áp dụng các chuẩn mực khác với quốc tế sẽ gây rất nhiều khó khăn trong việc quản lý các ngân hàng và cho các nhà đầu tư nước ngoài khi xem xét đầu tư vào các ngân hàng. Bản thân các chuẩn mực kế toán quốc tế đã được xây dựng và sửa chữa để tránh lặp lại các vụ việc, vụ án đã xảy ra trong lịch sử. Chúng ta nên tận dụng để kế thừa các kinh nghiệm này của quốc tế.

Cuối cùng, tinh thần tuân thủ và thực thi pháp luật phải được coi trọng. Hệ thống ngân hàng cần đề cao tinh thần tuân thủ pháp luật để có thể xây dựng được một hệ thống ngân hàng vững mạnh và chuyên nghiệp giúp hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Phạm Hồng Hải, giám đốc ngân hàng HSBC Việt Nam