Abenomics chưa bao giờ là giải pháp thích hợp, chủ yếu vì chính sách này giải quyết “triệu chứng” thay vì “nguồn cơn” của nỗi sầu bi nước Nhật.

Gần đây chính sách kinh tế kiểu Abe (Abenomics) có nhiều tin xấu: mục tiêu kiềm chế lạm phát không đạt được, tốc độ tăng trưởng vẫn yếu, lòng tin trong khối doanh nghiệp ở mức thấp và nhuệ khí quốc gia kém (thậm chí còn tệ hơn sau những trận động đất gần đây). Dẫu vậy, Abenomics chưa bao giờ là giải pháp thích hợp, chủ yếu vì chính sách này giải quyết “triệu chứng” thay vì “nguồn cơn” của nỗi sầu bi nước Nhật.

Tôi đến Nhật Bản lần đầu vào năm 1950, và kể từ đó thường xuyên trở lại. Thật khó để tưởng tượng về sự năng động của nước Nhật trong những năm 1960 nếu bạn không tận mắt chứng kiến. Gần như mọi thành phần người Nhật luôn hướng ngoại, tò mò về thế giới và hăm hở học hỏi. Là người Pháp, tôi nhớ cách mà sinh viên phổ thông Nhật Bản háo hức khi thảo luận về Camus, Sartre, Proust và Gide còn giới tài xế taxi sau khi hỏi quốc tịch của tôi thường ngân nga bằng tiếng Nhật giai điệu của những bài hát Pháp như Sous les toits de Paris và Les Feuilles mortes cho đến khi chúng tôi đến nơi. Một trong những nơi tôi đến là một tiệm sushi nơi vị bếp trưởng “dạy” tôi về chính sách ngoại giao của Charles de Gaulle (và cách Nhật Bản nên học từ ông).

Thập niên 1970 thách thức hơn khi Nhật Bản bị tác động bởi cái-gọi-là cú sốc dầu mỏ sau sự phát triển của khối OPEC, cùng với “cú sốc Nixon” khi vị tổng thống Mỹ xóa bỏ chế độ bản vị vàng và gây ra sự sụt giá trầm trọng của đồng yen và nhiều hậu quả khác. Khi đó viễn cảnh tương lai rất u ám cho nước Nhật. Nhưng hóa ra đây lại là giờ khắc đẹp nhất cho nước Nhật: Chính phủ và nhân dân thực hiện những cải cách năng động. Sức tiêu thụ năng lượng giảm, và ngành sản xuất bùng nổ khi những biện pháp tiết kiệm năng lượng được đưa ra, và ngành công nghiệp Nhật Bản giành được lợi thế cạnh tranh trong kỹ thuật thu nhỏ sản phẩm công nghiệp.

Khi nền kinh tế Nhật Bản có vẻ sắp sụp đổ vào năm 1991, tôi đã viết một bài bắt đầu bằng câu nói của Mark Twain: “Tin tức về cái chết của tôi đã bị phóng đại quá mức.” Khi đó tôi thấy Nhật Bản sẽ “phản công” như vẫn từng làm trong quá khứ. Khoảng hai thập kỷ rưỡi “lạc lối” sau, tôi thấy rõ mình đã sai bét. Như một người bạn Nhật giải thích cho tôi: tuy nước Nhật luôn phản ứng với những thách thức bên ngoài như việc thua trận trong Thế chiến II, vấn đề dầu mỏ và cú sốc Nixon, cuộc khủng hoảng của những năm 1990 đến từ chính sự suy thoái và cứng nhắc nội tại của nó.

Đúng là bầu không khí văn hóa xã hội đã thay đổi đáng kể trong những năm 1980. Đây là khi hội chứng “Nhật Bản là số 1” khởi phát. Khi nước Mỹ vật lộn về kinh tế, đất nước này bị xem thường, thậm chí là khinh miệt, giống như nội dung sống động trong cuốn sách ngạo mạn The Japan That Can Say No – do nhà đồng sáng lập kiêm chủ tịch Sony, Akio Morita và chính trị gia Shintaro Ishihara, người luôn khẳng định vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937 chưa từng xảy ra, đồng chấp bút.

Trái ngược với tinh thần của thập niên 1960, trong những năm 1980, ở Nhật tồn tại sự ngạo mạn dân tộc chủ nghĩa còn trong những năm 1990 là sự thống trị của cơn hướng nội tự kỷ. Vào cuối thế kỷ 19, Nhật Bản là quốc gia không thuộc phương Tây duy nhất thành công trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để gia nhập hàng ngũ của những siêu cường. Ngược lại, Nhật Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh cho phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của thế kỷ 21.

Có nhiều chỉ dấu minh họa cho vấn đề này. Tôi chỉ tập trung vào hai yếu tố chính: tiếng Anh và sự trỗi dậy của Trung Quốc. Rõ ràng tiếng Anh sẽ vẫn là ngôn ngữ quốc tế trong vài thập niên tới, còn người Nhật thì nằm trong nhóm kém nhất trong điểm số bài thi TOEFL, tệ thứ nhì châu Á, trên mỗi CHDCND Triều Tiên. Số lượng sinh viên Nhật Bản đi du học đang giảm sút, còn hầu hết quốc gia châu Á khác đang tăng mạnh. Người trẻ Nhật Bản đang ngày càng trở nên biệt lập với thế giới.

Từ cuối thế kỷ 19 đến gần đây, Nhật Bản luôn đứng số một châu Á khi đã đánh bại Trung Quốc cả về quân sự lẫn kinh tế. Với thời gian ở Tokyo những năm 1980, tôi có thể xác nhận rằng giới tinh hoa Nhật Bản, dẫu trong kinh doanh hay chính trị, truyền thông và học thuật… đều không nhìn được trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Nhiều thập niên sau, rõ ràng Nhật Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh với thực tế rằng Trung Quốc đang tiến băng băng trên con đường trở thành một trong những thế lực dẫn đầu toàn cầu, chỉ kém mỗi Mỹ. Điều chúng ta đang chứng kiến hôm nay là “sự toàn cầu hóa mang bản sắc Trung Quốc.” Ví dụ: Không kể Mỹ và Canada, Nhật Bản là nước duy nhất từ chối làm thành viên sáng lập của tổ chức ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank) do Bắc Kinh chủ xướng. Trước thách thức từ Trung Quốc, giới lập pháp Nhật Bản chạy lẩn quẩn như rắn mất đầu.

Chỉ khi, và nếu, Nhật Bản khôi phục ý chí hướng ra thế giới, thì họ mới có cửa hồi sinh. Mỗi Abenomics không thôi thì chẳng bõ gãi ngứa.

Jean-Pierre Lehmann