Hơn 40 năm gắn bó với ruộng đất và trải qua nhiều thất bại, người nông dân Võ Quan Huy đang canh tác trên gần một ngàn héc ta đất nông nghiệp, từ Lâm Đồng tới vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nông dân cự phú - ảnh 1

Ông Võ Quan Huy tại khu chế biến chuối nằm tại trang trại chuối của ông ờ Long An.

Giữa đỉnh chiều nắng nóng một ngày tháng Ba, một người đàn ông dáng trung niên cao lớn, da ngăm đen, tóc bạc trắng tự lái xe đi kiểm tra sáu lô đất trồng chuối trên diện tích 240 héc ta ở Đức Huệ, Long An. Ở tuổi 61, ông Võ Quan Huy không phải là một nông dân điển hình ở Việt Nam, dù cả sự nghiệp gắn với nghề nông. Ông hiện là giám đốc công ty Huy Long An, công ty đang nuôi trồng và xuất khẩu sáu sản phẩm chính là chuối, bưởi, mít, bò thịt, tôm và cao su trên diện tích gần một ngàn héc ta đất trải khắp các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Lâm Đồng.

Tại Long An, 240 héc ta đất được ông Huy cải tạo từ vùng đất phèn từ những năm 1995, hiện đang được sử dụng trong kế hoạch trồng 100 héc ta chuối, nuôi gần năm ngàn con bò thịt giống nhập khẩu từ Úc. Diện tích còn lại ông trồng bưởi, mít và cỏ phục vụ nuôi bò.

“Năm 2015 nói chung tôi cũng có thặng dư, nhưng không tính nổi doanh thu vì tôi làm theo mô hình trang trại, quản lý theo hình thức gia đình nên hay bị rớt con số do quên ghi chép, thống kê chi phí rất khó,” ông Huy nói về tình hình kinh doanh năm 2015 của mình. Không cung cấp con số chính thức, nhưng lời kể của ông Huy cũng phần nào giúp hình dung bức tranh đầu tư nông nghiệp đa năng của ông. Năm ngoái, ông lỗ hơn 30 tỉ đồng trên 110 héc ta nuôi tôm ở Sóc Trăng và Bạc Liêu, xuất khẩu 500 tấn chuối sang thị trường Malaysia, Singapore, Trung Đông với giá từ 10 - 12 triệu đồng mỗi tấn; “lãi vài chục triệu đồng” mỗi héc ta cao su trên diện tích 70 héc ta tại Bình Dương; “quả bưởi đầu tư  hơn một tỉ đồng nhưng mới bán được vài trăm triệu đồng”. Năm 2014, ông Huy đóng 300 tỉ đồng tiền thuế từ doanh thu bán bò, thu lãi 90 tỉ đồng. Năm 2015, ông đóng 200 tỉ đồng tiền thuế. Ông Huy thuộc số ít những nhà đầu tư xuất phát thuần nông ở Việt Nam, có chiến lược đầu tư năng động hoàn toàn tập trung vào nông nghiệp.

Năm 2015 là năm khó khăn của ngành chế biến và xuất khẩu tôm của Việt Nam. Theo chia sẻ của “vua tôm” Lê Văn Quang, chủ tịch tập đoàn Minh Phú tại “Diễn đàn kinh doanh 2015” của Forbes Việt Nam, giá thành ngành sản xuất tôm Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực từ 10 - 20% do giá nguyên liệu đầu vào và giá nhân công cao, trong khi đồng tiền các nước phá giá từ 5 - 28%, đồng nội tệ của Việt Nam lại tiếp tục neo tỉ giá, tạo ra áp lực lớn lên ngành chế biến và xuất khẩu tôm. Câu chuyện con tôm của ông Huy cũng không nằm ngoài áp lực này. “Con tôm năm 2015 có hai vấn đề, đó là bệnh dịch và giá cả,” ông Huy cho biết. Theo ông, những năm trước có dịch bệnh nhưng do giá tốt nên nếu tôm chết 50% thì vẫn có lời, nhưng năm 2015 thậm chí nuôi sống đủ hết vẫn lỗ, do giá thành cao, giá xuất khẩu lại rẻ. “110 héc ta tôm của tôi, trung bình mỗi héc ta tôi lỗ 300 triệu đồng”, ông nói thêm.

Lỗ từ nuôi tôm, nhưng ông Huy bù lại được từ trồng trọt. “Thặng dư từ cây chuối cũng bù lại phần nào mấy cái kia,” ông Huy chia sẻ. Theo báo cáo của FAO năm 2015, thị trường xuất khẩu chuối toàn cầu năm 2013 đạt hơn 16 triệu tấn, trong đó châu Á xuất khẩu 2,9 triệu tấn, riêng Philippines xuất khẩu 2,7 triệu tấn. Nắm được những thông tin về thị trường, cuối năm 2014, ông Huy quyết định đầu tư gần hai triệu đô la Mỹ vào 70 héc ta đất ở Tây Ninh và 40 héc ta ở Long An để trồng chuối theo quy trình công nghiệp. Hiện nay, năng suất thu hoạch tại hai vườn chuối của ông Huy khoảng 25 tấn mỗi ngày, và ông vẫn đang tiếp tục trồng thêm 60 héc ta chuối tại Đức Huệ, Long An.

Mỗi vườn chuối của ông Huy đều được quy hoạch thành từng lô từ 18 - 20 héc ta, với kỹ thuật chăm sóc tuân thủ theo quy trình từ lúc cây chuối ra hoa, chích thuốc, trổ khoảng 10 nải là bẻ hoa để đảm bảo trái đều và đẹp, sau đó đánh dấu, “mặc áo” cho từng nải, từng buồng chuối. Sau 10 tuần, những nài chuối được đánh dấu sẽ được thu hoạch, móc vào đường cáp tải chuối ở từng lô và kéo về khu chế biến. Tại đây, chuối được kiểm tra, phân loại, xử lý trong bể khử khuẩn, lau khô và đóng gói đem đi tiêu thụ. “Tôi sang Philippines năm 2015, thấy công nghệ trồng và chế biến chuối tiên tiến nên mang về áo dụng,” ông Huy nói trong khi lái xe chậm rãi, mắt vẫn quan sát từng hàng chuối non tại những lô mới trồng. Ông kỳ vọng tới năm 2017 sẽ xuất khẩu 10 ngàn tấn chuối mỗi năm.

Mặc dù kỳ vọng vào cây chuối, nhưng sản phẩm chủ lực của ông Huy trong giai đoạn này vẫn là chăn nuôi, tôm và bò. Bắt đầu nhập bò thịt từ Úc về nuôi từ năm 2012 để “chia sẻ rủi ro trong cơ cấu sản xuất”, thời điểm năm 2014, có những ngày ông Huy cung cấp khoảng 500 con bò cho thị trường. “Hiện giờ mỗi ngày tôi chỉ xuất khoảng 200 con,” ông cho biết. Theo tính toán của ông Huy, con bò của ông sẽ sống rất “dai”, vì ông nhận định rằng khi Trung Quốc bắt đầu công nghiệp hoá thì các sản phẩm nông nghiệp sẽ giảm dần, nguồn bò thịt mà Trung Quốc nhập từ Việt Nam sẽ tăng cao. Tuy nhiên hiện nay nguồn thịt bò của ông Huy hoàn toàn cung cấp vào thị trường Việt Nam.

Theo ước tính của cục Chăn nuôi, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2015, Việt Nam nhập khoảng 39 ngàn tấn thịt bò, đạt khoảng 300 triệu đô la Mỹ. Nhu cầu đối với thị trường thịt bò còn rất lớn, tuy nhiên theo ông Huy, khi Việt Nam nhập quá nhiều thì bò Úc sẽ tăng giá, đồng thời có nhiều người cùng nhảy vào kinh doanh thì sẽ phải cạnh tranh nhau về giá, cùng với đó là thịt bò đông lạnh nhập về quá nhiều, thịt bò tươi lại không tăng giá được. Ông Huy lo ngại rằng thị trường bò ở Việt Nam đang “tự chết vì cạnh tranh không lành mạnh.”

Có tính cách dân dã, cởi mở của người miền tây, ông chủ miệt vườn được dân trong vùng gọi tên thân mật là “Út” này kể rằng cây mía mới chính là ân nhân của ông. Là con út trong gia đình có 10 người con, từ những năm 1970, khi mới 14 tuổi ông Huy đã nửa ngày đi học, nửa ngày ôm vô-lăng máy cày đi cày thuê kiếm tiền phụ mẹ. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông làm đủ nghề từ chạy máy cày, đốn mía thuê, làm lò đường, trồng mì, trồng đậu, nhưng do “thiếu kinh nghiệm nên cũng không khá lên được.” Năm 1977, vì Long An khi đó thiếu đất, ông Huy sang Tây Ninh khai hoang hơn 10 héc ta trồng mía, trận lụt năm 1978 khiến ông trắng tay và lại đi làm thuê. Thất bại này không khiến ông nản chí.

Năm 1982, ông tiếp tục đi khai hoang 70 héc ta đất ở huyện Tân Uyên, Bình Dương để trồng mía. Do thiếu kinh nghiệm về mùa vụ và làm đất, năm đầu tiên 80% diện tích mía của ông bị chết, thua lỗ nặng. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục bám trụ với cây mía, ăn nợ quán từng mùa, tiếp tục sản xuất tới năm 1987 mới trả hết nợ. Năm 1991, ông Huy nhận khai hoang thêm 80 héc ta đất ở Bời Lời, Tây Ninh. Năm 1993 ông bắt đầu trồng mía tưới với dự định bơm lớn tưới tràn, nhưng vẫn do thiếu kinh nghiệm làm đất nên “nước bơm bao nhiêu đất hút bấy nhiêu”. Cây mía không phát huy được lợi thế, ông phải đầu tư hệ thống tưới bùn tốn kém, ba năm sau ông Huy mới trả hết nợ. Đến năm 1995, ông Huy có 150 héc ta mía ở Bời Lời và Tân Uyên cho thu hoạch ổn định và sinh lãi 500 triệu đồng mỗi năm.

Khi bắt đầu có tiền, ông Huy quay về quê ở Đức Huệ, Long An, rốn phèn của vùng Đồng Tháp Mười để cải tạo đất phèn. Tính toán chỉ cải tạo phèn trong ba năm là cây mía có thể phát triển được, ông nhận 240 héc ta vì “tham.” Nhưng bắt tay vào làm thì thực tế không giống như lý thuyết. Để cải tạo đất phèn thì biên độ triều cường cần lên 70cm mới đủ nước để cải tạo đất, trong khi đó biên độ triều ở đây chỉ đạt 20cm. Trong ba năm, mỗi năm ông mất cả tỉ đồng để cải tạo đất nhưng cây mía vẫn chết do phèn. Năm 1998, ông Huy định đầu hàng với 240 héc ta đất phèn, nhưng ông Tạ Tuyết, giám đốc nhà máy đường Hiệp Hoà, Long An động viên và hỗ trợ để ông tiếp tục chiến đấu.

Từ năm 1996 - 1998, lũ về Long An liên tục, dù nước lũ giúp rửa phèn nhưng cũng khiến cây trồng không sống nổi. Vì vậy năm 1999, ông Huy đầu tư mua máy xúc về đắp bờ ngăn lũ, xây dựng mô hình đê bao chống lũ, rửa phèn, thi công bằng cơ giới, giúp ngăn lũ, đưa nước ngọt từ hai con kênh vào ruộng khi nước lên và xả nước rửa phèn khi nước xuống. Cùng với đó ông tái thiết cây trồng trên đất phèn. Ông Huy chuyển sang trồng dưa hấu và ớt để “cấp cứu cây mía” trên từng lô 20 héc ta, dùng phân hữu cơ để cải tạo dần đất phèn. Năm 2000, khi đất đã tốt lên, năng suất cây ớt bình quân đạt 30 tấn mỗi héc ta, mỗi năm ông Huy có thể cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn ớt. Cùng thời gian này, 70 héc ta mía ở Tân Uyên đã được ông chuyển đổi sang trồng cao su. “Giờ tôi vẫn ớn lạnh với trận khai phá vùng Đồng Tháp Mười, có những lúc công việc tồi tệ nhất, tưởng gục ngã, không đứng dậy nổi,” ông nhớ lại. Ông Huy cho rằng mình có những quyết định may mắn như nâng cấp đê bao, giúp ông vượt qua thiên tai và phát triển tới hôm nay.

Đến nay, ông ước tính đã đổ hàng tỉ đồng vào mỗi héc ta đất ở đây để cải tạo và sửa hạ tầng. “Nhưng một héc ta ở đây đâu có bán được một tỉ đồng”, ông cười nói. Theo luật Đất đai năm 1993, với những diện tích đất được khai hoang trước năm 1993 thì người khai hoang được cấp quyền sử dụng đất, nhưng không vượt quá hạn điền 40 héc ta. Cùng với mức hạn điền về sử dụng đất nông nghiệp được khống chế với mỗi hộ gia đình, nên với hàng trăm héc ta đất đang canh tác, ông Huy phải uỷ quyền cho rất nhiều người đứng tên giúp. Điều này cũng gây ra nhiều khó khăn cho việc tiến hành sản xuất của ông.

Hai sản phẩm dưa hấu và ớt phát huy vai trò đến năm 2005, sau đó ông Huy tiếp tục nghiên cứu tái thiết toàn bộ cây trồng vùng Đức Huệ. Năm 2007, ông phủ xanh toàn bộ diện tích 240 héc ta với cây xoài, bưởi, mít và thanh long. Sau khi đã đắp bờ, xây đê bao chống lũ vùng Đức Huệ xong, năm 2000 ông Huy đưa máy xúc đang nhàn rỗi sang Long Phú, Sóc Trăng để đào thuê ao tôm. “Khi đó đây vẫn còn là vùng hoang hoá, vùng nuôi tôm chưa phát triển, dân còn nghèo”, ông kể. Làm việc theo kiểu ao đào xong chỉ trả trước tiều nhiên liệu, phần còn lại bao giờ tôm nuôi thành công thì trả nốt, ông Huy tìm cách học hỏi nghề nuôi tôm từ người dân. Năm 2001, ông mua sáu héc ta ở Sóc Trăng và bắt đầu nuôi tôm. Một lần nữa ông Huy lại thất bại.

“Về lý thuyết, nuôi tôm an toàn tới 70% nếu kiểm tra kỹ dịch bệnh, xét nghiệm chỉ tiêu, sát trùng nước. Nhưng khi đó tôi làm bậy, không đoái hoài tới mùa vụ nên chết,” ông nhớ lại. Tự khoan giếng lấy nước mặn và thả tôm quanh năm, trong một năm, ông Huy nuôi ba đợt tôm với tổng cộng 17 ao, mỗi héc ta mất hơn 200 triệu đồng, ông lại lỗ thêm vài tỉ đồng nữa. Dẹp mấy ao tôm sang một bên, ông tới các trường, viện dạy về nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long để học nghề, “may là thời điểm đó quả dưa hấu, ớt ở Long An, cao su Bình Dương và mía Tây Ninh đều có lãi nên tôi không phải lo về vốn”, ông Huy nói.

Sau khi theo học lớp tập huấn của FAO về nuôi tôm theo công nghệ sinh học ở đại học Cần Thơ, ông quay lại Sóc Trăng mua thêm 100 héc ta để nuôi tôm, tỉ lệ nuôi thành công lên 90%, ông sang Bạc Liêu mua tiếp 60 héc ta để mở rộng diện tích. Lúc này ông đã có gần 600 héc ta đất canh tác khắp miền Đông và miền Tây Nam Bộ. “Con tôm là sản phẩm chủ lực của tôi trong giai đoạn 2006 - 2011, nhưng nông sản Việt Nam vẫn luẩn quẩn khi cứ nuôi được mùa thì lại rớt giá”, ông Huy cho biết. Năm 2012, ông bổ sung thêm con bò vào cơ cấu sản xuất của mình, đồng thời ông cũng nắm giữ 50% cổ phần của công ty bò Kết Phát Thịnh. Đến năm 2015, ông Huy mua thêm 350 héc ta đất ở Lâm Đồng, trong đó có 50 héc ta rừng, còn lại là đất nông lâm kết hợp. Hiện ông đang trồng thử bơ và trà ô long để rút kinh nghiệm, xây dựng quy trình chứ chưa phát triển sản xuất.

Kinh nghiệm hơn 40 năm thăng trầm cùng nghề nông giúp ông Huy hiểu rằng, để làm được kinh tế trang trại cần say mê học hỏi để thay đổi vươn lên, cần ý chí vượt khó vì nông nghiệp luôn khó, cần tạo điều kiện cho cộng đồng cùng phát triển, phải đúc kết được kinh nghiệm sau mỗi thất bại để kịp thời chấn chỉnh, không được chủ quan duy ý chí, sẽ dẫn tới những thất bại tiếp theo, và phải thực hiện tiêu chí “sản xuất mặt hàng theo tiêu chuẩn thị trường chấp nhận và có nhu cầu”.

“Nếu tôi làm ít thì tôi sẽ thiếu quan tâm, mà thiếu quan tâm thì sẽ chết chắc, vì vậy tôi thường làm lớn để mình phải quan tâm, chăm sóc nhiều hơn”, ông Huy nói về những quyết định đầu tư lớn và thất bại “ra tấm ra món” của mình. Hiện nay công ty Huy Long An do ông Huy và hai người con trai quản lý, với 400 công nhân và tiền trả lương hàng tháng khoảng hai tỉ đồng. Ông chia sẻ: “Tôi mà cứ có dư tiền là tôi lại đi mua đất, mở mang diện tích và tái đầu tư”. Đến nay, ước nguyện về việc lấn phèn ông đã thực hiện được, đưa vùng đất phèn Đức Huệ, Long An trở thành vùng cây ăn trái, nhưng khi được hỏi về ý định nghỉ hưu, ông Võ Quan Huy dường như hơi bất ngờ rồi cười vang: “Tôi cũng định nghỉ năm ngoái đấy, nhưng cây chuối ngon ăn quá nên tôi lại làm tiếp”.