Khi lao động giá rẻ không còn là lợi thế - ảnh 1

orbes Việt Nam: Ông nhận xét như thế nào về chất lượng và sự cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay, so với các nước trong khu vực?

Đào Quang Vinh: Dân số của Việt Nam năm 2017 là 93,7 triệu người, với gần 55 triệu người lao động từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 22% đã qua đào tạo, có bằng cấp chứng chỉ. Hiện tại, gần 40% lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp và hơn 18 triệu người làm việc trong khu vực phi chính thức, nơi chủ yếu thu hút lao động có trình độ chuyên môn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn khá thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các đánh giá của tổ chức quốc tế. Chỉ số phát triển con người năm 2016 của Việt Nam đứng thứ 115/188 nước, còn chỉ số cạnh tranh tài năng toàn cầu năm 2017 của Việt Nam chỉ đứng thứ 86/118 nước. Năng suất lao động Việt Nam tụt hậu khá xa so với các nước ASEAN.
Đáng chú ý là chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện rất chậm trong những năm qua, mặc dù chi phí cho giáo dục - đào tạo chiếm một tỉ lệ khá cao trong chi tiêu của các hộ gia đình. Trong khi các doanh nghiệp cho rằng họ phải đào tạo lại người lao động để đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Nhìn chung, tiền lương của lao động Việt Nam vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực, nên vẫn còn dư địa cạnh tranh bằng tiền lương để thu hút đầu tư. Trong mấy năm vừa qua, có xu hướng tăng tiền lương khá nhanh, thậm chí tiền lương tối thiểu trong một số năm còn tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Nhiều doanh nghiệp có ý kiến tốc độ tăng tiền lương như vậy gây áp lực cho doanh nghiệp.
Forbes Việt Nam: Nhân công giá rẻ được xem là lợi thế thu hút nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam. Theo ông, Việt Nam có nên tiếp tục chiến lược phát triển kinh tế dựa trên lợi thế nhân công rẻ nữa không, và chiến lược này có thể duy trì bao lâu nữa?
Đào Quang Vinh: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc duy trì quá lâu chiến lược thu hút đầu tư dựa trên lợi thế nhân công giá rẻ dẫn đến không cải thiện được cơ cấu của nền kinh tế, không tăng năng suất lao động và thu nhập cho người lao động. Trong thời gian dài doanh nghiệp cứ đầu tư để tận dụng lao động giá rẻ, còn người lao động thấy có nhiều cơ hội việc làm không cần lao động qua đào tạo nên họ ít quan tâm học tập để nâng cao trình độ tay nghề, các cơ sở đào tạo không chịu sức ép để nâng cao chất lượng đào tạo. Đó là một vòng luẩn quẩn khiến việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực bị chậm.
Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh toàn cầu, nhiều vấn đề đặt ra cho nền kinh tế, phải đổi mới, áp dụng công nghệ mới, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nhưng đổi mới cơ cấu và đổi mới công nghệ là một quá trình và trong thời gian đó, chúng ta vẫn có thể tiếp tục tận dụng lợi thế lao động giá rẻ và tiền lương thấp. Tuy nhiên, chúng ta phải phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao, đòi hỏi tay nghề công nhân cao hơn để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng năng suất và qua đó tăng thu nhập cho người lao động.
Như vậy, trong ngắn hạn thì chúng ta có thể tiếp tục đi bằng cả hai con đường: vừa tiếp tục thu hút đầu tư để tận dụng lao động giá rẻ, song đồng thời phát triển nhanh các ngành nghề mới, những lĩnh vực sử dụng nhiều công nghệ, tiếp thu công nghệ mới để tăng năng suất và tăng sự cạnh tranh của nền kinh tế. Theo dự đoán, chỉ trong vòng 10 – 15 năm nữa, sự phát triển của công nghệ, áp dụng rô bốt, các dây chuyền tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ mới sẽ tiến triển rất nhanh và nếu một quốc gia không tận dụng những cơ hội đó để phát triển thì sẽ bị tụt hậu, và sẽ chịu những tác động hết sức nặng nề của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

 

Khi lao động giá rẻ không còn là lợi thế - ảnh 2

 

Forbes Việt Nam: Những ngành nghề nào Việt Nam có lợi thế, tiềm năng phát triển và giúp phát triển tay nghề lao động Việt Nam?
Đào Quang Vinh: Công nghệ thông tin là ngành mũi nhọn. Trong những năm qua số lượng đơn đặt hàng, lao động làm việc, kim ngạch xuất khẩu ngành này tăng rất nhanh. Du lịch và các hoạt động dịch vụ liên quan cũng có tiềm năng phát triển và áp dụng những công nghệ mới vào những công đoạn phục vụ khách hàng, vận chuyển, bố trí nơi ở. Nông nghiệp công nghệ cao tận dụng lợi thế về thổ nhưỡng đất đai, khí hậu nhiệt đới, nhiều quy trình sản xuất có áp dụng công nghệ mới về tưới tiêu, giám sát, quản lý quá trình, chế biến thực phẩm. Ngoài ra, những ngành của tương lai như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, vật liệu mới, công nghệ phục vụ y học, sản xuất thực phẩm chức năng... cũng có nhiều tiềm năng để phát triển phù hợp với những phẩm chất năng lực của con người Việt Nam như thông minh, sáng tạo và năng động.
Trong vài năm gần đây có những chuyển biến rõ nét ở Việt Nam trong lĩnh vực khởi nghiệp, phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử, một số lĩnh vực trong ngành phục vụ cho ngành công nghiệp đời sống. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nhanh hơn và rõ rệt so với trước đây.
Forbes Việt Nam: Quá trình chuyển dịch như vậy tác động đến người lao động ra sao, thưa ông?
Đào Quang Vinh: Lao động Việt Nam được đánh giá cao ở tính cần cù, thông minh, nhanh nhạy, siêng năng. Tuy nhiên, những điều mà người sử dụng lao động cần nhất là những kiến thức cơ bản, những kỹ năng chuyên môn và đặc biệt là kỹ năng mềm, ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, phản biện, giải quyết vấn đề. Một khía cạnh nữa đối với người lao động là thái độ lao động. Đây là những vấn đề mà các doanh nghiệp đang đòi hỏi cao hơn nhiều so với những gì người lao động đang có.
Điều này đòi hỏi phải thay đổi hệ thống giáo dục - đào tạo từ cấp phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp, cũng như đào tạo đại học nhằm trang bị cho người lao động có những kiến thức cơ bản về khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học mà dựa theo đó người lao động có thể tiếp tục học tập suốt đời, cập nhật kiến thức nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của công việc.
Forbes Việt Nam: Ước tính của tổ chức Lao động quốc tế chỉ ra khoảng 86% tổng số lao động làm công ăn lương trong ngành dệt may, da giày của Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị mất việc làm do tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Làm thế nào để họ không bị đứng bên lề, xét dưới góc độ các bên doanh nghiệp, người lao động, quản lý nhà nước?
Đào Quang Vinh: Trước hết chúng ta phải thấy rằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một xu hướng tất yếu. Dù muốn hay không thì quá trình này vẫn diễn ra. Nhiều người ví von là đoàn tàu 4.0 cứ lao lên phía trước, và nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để lên chuyến tàu đó để cùng tiến về phía trước. Các doanh nghiệp và người lao động phải chuẩn bị cho mình hành trang để đi trên chuyến tàu đó.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể dẫn đến một số công đoạn sản xuất sẽ được thay thế bằng máy móc tự động và rô bốt, một số ngành nghề sẽ mất đi, đồng thời sẽ tạo ra những ngành nghề, lĩnh vực mới và đòi hỏi đội ngũ lao động có những kỹ năng mới. Trong bối cảnh mới, người lao động cần được đào tạo những kiến thức cơ bản để từ đó tiếp tục học tập những kỹ năng, ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu kỹ năng luôn luôn thay đổi của doanh nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu này, không chỉ có người lao động cần chủ động chuẩn bị, mà doanh nghiệp, nhà nước cũng phải vào cuộc một cách quyết liệt. Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cho người lao động trong quá trình đào tạo lại, chuyển đổi ngành nghề để thích ứng với nền kinh tế.
Forbes Việt Nam: Việt Nam nên chú trọng xây dựng những lợi thế mới nào khác ngoài lao động giá rẻ, theo ông? Sẽ có thể xảy ra những hệ lụy nếu người lao động không thể thay đổi để đáp ứng những yêu cầu mới về lao động do các điều kiện khách quan nói trên thưa ông?
Đào Quang Vinh: Rõ ràng bây giờ lao động giá rẻ không còn là lợi thế nữa rồi. Kỷ nguyên số đòi hỏi người lao động phải được đào tạo những kiến thức cơ bản vững chắc và kỹ năng mới gắn với công nghệ thông tin, khả năng sáng tạo và thích nghi. Nếu không được chuẩn bị đầy đủ, người lao động không sẵn sàng thì có thể xảy ra tình huống mất việc hàng loạt. Tôi không nghĩ rằng kịch bản này sẽ xảy ra, song nó đòi hỏi chúng ta phải chủ động xây dựng các chương trình hỗ trợ người lao động như tổ chức đào tạo lại, nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ việc làm cho người lao động trong trường hợp bị mất việc làm do đổi mới công nghệ.
Forbes Việt Nam: Ông đánh giá thế nào về tác động của các hiệp định khu vực kinh tế cho phép nhân lực dịch chuyển khá tự do trong khối ASEAN? Điều này tạo ra lợi thế và thách thức gì cho nguồn nhân lực Việt Nam?
Đào Quang Vinh: Cộng đồng kinh tế ASEAN đã hình thành và hiện nay đã tạo điều kiện cho dịch chuyển lao động giữa các nước trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, để việc dịch chuyển lao động này hoàn toàn tự do thì còn nhiều việc phải làm như công nhận lẫn nhau về bằng cấp, chứng chỉ, tiêu chuẩn hóa về lao động trong khu vực, hệ thống đăng ký, cung cấp thông tin về thị trường lao động... Những thách thức lớn nhất đối với lao động Việt Nam là khả năng về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa, kỹ năng làm việc nhóm, ý thức kỷ luật và thái độ làm việc.
Forbes Việt Nam: Cảm ơn ông.