Đi tìm đũa thần - ảnh 1

hả xong bốn cái tách uống trà xuống khay đựng sản phẩm thành phẩm, cánh tay máy lùi ngang ra, rồi nâng thẳng lên và đột ngột gia tăng tốc độ, xoay một nửa vòng trên không, rồi từ từ hạ xuống, tiến vào gắp tiếp bốn cái tách mới. Nó lặp lại các thao tác lùi ngang, nâng thẳng, xoay trên không, hạ xuống để đưa bốn chiếc tách vào bộ gá, chờ các chi tiết máy khác gắn thêm tay cầm vào tách, rồi mới quay lại bàn thành phẩm. Không một giọt mồ hôi nào có thể ngấm qua lớp đất để có thể tác động đến lớp men khi nung, một yếu tố nhỏ nhưng có khi làm thay đổi sản phẩm một cách ngoài kiểm soát, theo kinh nghiệm của những người thợ nung gốm lâu năm. 

Cách đó không xa, đất nguyên liệu được máy cắt thành các khối trụ đều nhau, cao khoảng 7 – 10 phân, lần lượt được các tay máy đưa vào khuôn, tạo hình sản phẩm. Các khâu tạo hình, nhúng men, dập nhãn hiệu, nung đều do máy móc tự động thực hiện theo quy trình được thiết lập sẵn. Nhân công chủ yếu để vận hành máy móc, kiểm tra chất lượng. Hai dây chuyền tự động hóa hoàn toàn như vậy đang được đội ngũ lao động ở công ty gốm sứ Minh Long I vận hành, bên cạnh các dây chuyền sản xuất bán tự động. Mỗi ca sản xuất trên dây chuyền tự động cần khoảng 18 người, thay vì 450 người như khi sản xuất theo lối cũ. Hình ảnh quen thuộc của người làm gốm bên chiếc bàn xoay tạo hình sản phẩm chỉ xuất hiện khi cần sản xuất các sản phẩm gốm sứ nghệ thuật, vốn chiếm khoảng 2% sản lượng ở Minh Long I, theo ông Lý Huy Sáng, phó tổng giám đốc Minh Long I. Hai năm qua, Minh Long I lần lượt đưa vào vận hành hai dây chuyền có mức độ tự động hóa cao. Ông Sáng nói: “Các dây chuyền tự động hóa hoàn toàn giúp nâng công suất sản phẩm mỗi ngày lên 120 ngàn đơn vị, khi cần có thể tới 200 ngàn đơn vị sản phẩm, gấp ba lần so với trước khi tự động hóa.” 
Việc rô bốt, tự động hóa thay thế nhân công trong các ngành sản xuất sẽ tác động đến thị trường lao động, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, thủy sản ở Việt Nam, không còn là câu chuyện quá xa vời. Điều đó xảy ra không chỉ ở các ngành công nghiệp mà còn ở các ngành nghề thủ công truyền thống như gốm sứ. Sử dụng dây chuyền sản xuất có tính tự động hóa có nhiều lợi ích như chất lượng đồng đều, tỉ lệ hao hụt thấp, hiệu quả kinh tế nhờ lợi thế sản xuất số lượng lớn. Nó cũng giúp lãnh đạo doanh nghiệp giải quyết bài toán nhân lực. “Trước đây, muốn tăng sản lượng, phải tuyển thêm người thông qua quy trình tuyển dụng – đào tạo,” ông Sáng nói. 
Ở một nước có cơ cấu dân số trẻ, có khoảng 50 triệu người trong độ tuổi lao động như Việt Nam, việc tuyển dụng lao động cũng không đơn giản khi người lao động ngày càng có nhiều lựa chọn. Thu hút lao động không đơn giản là câu chuyện cạnh tranh giữa nông thôn và thành thị, giữa các thành thị với nhau, mà còn giữa các ngành, các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu công nghệ cao TP.HCM, nơi có các doanh nghiệp lớn như Intel, Samsung rót hàng tỉ đô la đầu tư, thu hút hàng loạt doanh nghiệp vệ tinh đầu tư vào. Tuy nhiên, vẫn có doanh nghiệp vệ tinh đặt nhà máy ở các địa phương lân cận để “dễ tuyển dụng lao động,” theo lời lãnh đạo Soundpia, doanh nghiệp cung ứng thiết bị âm thanh cho Samsung.
Trong 10 năm trở lại đây, một trong những nguyên nhân để Việt Nam thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài lớn là nguồn nhân lực dồi dào, mức lương tương đối cạnh tranh. Tuy nhiên, lợi thế về nhân lực cũng như chi phí sử dụng lao động không thể duy trì lâu dài. Nhìn vào tháp dân số, có thể thấy trong 10 năm tới, cơ cấu lao động sẽ dịch chuyển từ độ tuổi dưới 25 sang mức 35 – 45. Tiền lương cũng có sự điều chỉnh nhanh, đặc biệt là 5 năm trở lại đây. “Lương công nhân đã tăng gấp đôi kể từ lúc chúng tôi mở nhà máy ở khu công nghiệp Long Thành vào năm 2012,” ông Song You Woo, giám đốc nhà máy SungJu Vina cho biết. Ông Nguyễn Mạnh Dũng, tổng giám đốc công ty cổ phần NaMilux cho biết, lương trung bình của công nhân hiện nay là 300 đô la Mỹ/tháng, cao hơn 7,5 lần so với lúc ông mở công ty vào năm 2000.
Đi tìm đũa thần - ảnh 2
Các công ty sản xuất như Minh Long I, NaMilux của ông Dũng đều hiểu được công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Sử dụng lượng công nhân không quá lớn so với các doanh nghiệp da giày, dệt may, hay lắp ráp điện tử, thủy sản, lãnh đạo của Minh Long I hay NaMilux đều hiểu ra, lợi thế về chi phí nhân công giá rẻ hay nguồn nhân lực dồi dào không thể tồn tại mãi mãi. Hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu khiến cho hàng hóa lưu thông thuận tiện, hàng rào thuế suất lần lượt được dỡ bỏ nên doanh nghiệp muốn tồn tại phải có lợi thế nhất định trong sản xuất. Ông Dũng nói: “Kinh tế hội nhập khiến cho hàng hóa muốn cạnh tranh được phải đáp ứng được các yêu cầu về chi phí, nhân công để sản xuất nhanh, đẹp và giá cạnh tranh.”
Ứng dụng tự động hóa, hay cách mạng công nghiệp 4.0 là lựa chọn của tương lai ngành sản xuất. Thứ nhất, hội nhập kinh tế thế giới khiến cho hàng hóa lưu thông dễ dàng, thuận tiện hơn nên biên lợi nhuận khó lòng duy trì ở mức độ cao. Để hạ giá thành, doanh nghiệp buộc phải sử dụng tự động hóa để đạt hiệu quả nhờ lợi thế quy mô trong sản xuất. Ngoài ra, người lao động ngày càng đòi hỏi cao về môi trường làm việc tốt hơn, thu nhập phù hợp. “Họ có xu hướng ngại làm việc tay chân,” ông Sáng phác thảo viễn cảnh.
Việc đưa dây chuyền sản xuất có tính tự động hóa không đơn giản tính bằng số tiền bỏ ra, hay thời gian lắp đặt vận hành, mà là tiến trình tính bằng chục năm ở Minh Long hay ở NaMilux. Quãng thời gian dài như vậy là để ban lãnh đạo doanh nghiệp xây dựng giải pháp đổi mới công nghệ cho phù hợp đặc thù doanh nghiệp, năng lực sản xuất, trình độ quản lý. “Tự động hóa là bài toán đo ni đóng giày,” ông Dũng giải thích về quá trình tìm hiểu, lựa chọn công nghệ ở công ty ông. Sau sáu tháng đàm phán, đối tác Hàn Quốc không đưa ra giải pháp phù hợp với yêu cầu của Namilux. “Tôi tưởng kết thúc rồi, ai ngờ, hai tháng sau, họ qua Việt Nam, trình bày giải pháp,” ông Dũng kể về việc triển khai máy dập tự động ở NaMilux. 
Từ năm 2002, trong các chuyến tham quan nhà máy sản xuất gốm sứ ở nước ngoài, ông Sáng bắt đầu chú ý đến việc ứng dụng tự động hóa vào sản xuất. “Lúc đó ở nước ngoài cũng chưa phải tự động hóa ở cấp độ cao như hiện nay,” ông Sáng kể. Theo ông, hai vấn đề lớn khiến lãnh đạo doanh nghiệp phải cân nhắc khi áp dụng tự động hóa là vốn và công nghệ sản xuất. Nghề gốm sứ nếu sản xuất theo lối truyền thống, thủ công, có tính rủi ro do chất lượng khó có thể duy trì ổn định, đồng nhất. “Cùng một lỗi nhưng trong ngành gốm sứ có nhiều nguyên nhân,” ông Sáng nêu dẫn chứng về lý do ban lãnh đạo Minh Long I trực tiếp tham gia vào nhóm đổi mới công nghệ. Một mặt, họ căn cứ vào dữ liệu đầu vào, mặt khác đội ngũ kỹ thuật phải kết hợp với kinh nghiệm hàng chục năm sản xuất của các nghệ nhân, lao động lành nghề để xây dựng, hiệu chỉnh để đưa ra quy trình chuẩn.
Bài toán sử dụng công nghệ trong sản xuất, trong suy nghĩ của ông Nguyễn Mạnh Dũng, được diễn dịch đơn giản là làm thế nào để duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, sản phẩm được khách hàng chấp nhận. Là doanh nghiệp ra đời năm 1999, thời kỳ doanh nghiệp sản xuất trong nước có lợi thế nhờ hàng rào thuế nhập khẩu, ông Dũng chứng kiến sự đòi hỏi của người tiêu dùng về chất lượng ngày càng cao. Quá trình vừa làm hàng trong nước vừa làm hàng cho Nhật giúp ông Dũng hiểu được vai trò của quy trình sản xuất. 
“Tự động hóa là cần thiết nhưng phải phù hợp,” ông Dũng nhận xét về tác động của công nghệ tới các ngành sản xuất. Sau khi xây dựng quy trình, lãnh đạo NaMilux lựa chọn thiết bị, công nghệ sản xuất phù hợp. Từ đầu năm 2017 đến nay, họ bước vào giai đoạn tự động hóa một số khâu trong dây chuyền sản xuất như dập, đúc, hàn, sơn. Trong sáu dây chuyền, có bốn đang được áp dụng tự động hóa, còn lại ở mức “bán tự động” như lời ông Dũng giải thích. Đưa phóng viên tham quan nhà máy đang sử dụng 730 nhân lực, ông Dũng giải thích thêm, duy trì hai dây chuyền bán tự động nhằm đáp ứng các đơn hàng số lượng nhỏ, bảo đảm tính linh hoạt trong hoạt động của doanh nghiệp. Ông Dũng nói: “Khâu dập 11 bước này được tự động hóa toàn bộ, thay vì sử dụng 18 người, nay còn hai người.” Sau khi áp dụng ở hai dây chuyền, ông Dũng cho biết, sắp tới họ dự định nhân rộng ra hai dây chuyền khác. Bên cạnh công đoạn dập, các công đoạn như sơn, khuôn cũng được tự động hóa ở mức độ cao. Đưa phóng viên đi tham quan các công đoạn sản xuất, ông Nguyễn Mạnh Dũng nói: “Dây chuyền tự động như vậy, việc tăng sản lượng đơn giản là tăng ca chạy máy.” 
Đi tìm đũa thần - ảnh 3
Hiệu quả của việc sử dụng tự động hóa, theo ông Sáng, là chất lượng đồng đều hơn, tỉ lệ hao hụt thấp hơn. Ở Minh Long, tỉ lệ thành phẩm sau khi nung đạt loại 1 ở mức trên 80%, so với tỉ lệ 60% khi chưa sử dụng dây chuyền tự động hóa. “Có ngày đạt trên 90%,” ông Sáng cho biết. Ông giải thích thêm, ngành gốm sứ có đặc thù phụ thuộc vào nhiều yếu tố, khó kiểm soát được như nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng không khí. 
Cái được lớn nhất khi ứng dụng công nghệ vào sản xuất, theo ông Dũng, là sự thay đổi trong suy nghĩ, cách làm của cán bộ công nhân viên. Về phía khách hàng, theo ông Dũng, có sự thay đổi, kể cả khách nước ngoài. Ông nói: “Sau khi áp dụng dây chuyền sản xuất tự động, khách hàng nước ngoài chấp nhận chất lượng bếp ga do NaMilux sản xuất ngang bằng với chất lượng bếp ga Korea và Nhật Bản.” Theo ông Dũng, sản lượng bếp gas du lịch xuất đi Nhật của họ ổn định 700 ngàn sản phẩm /năm chiếm khoãng 30% thị trường bếp du lịch tại Nhật. Cơ cấu sản phẩm của NaMilux chia đều cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Trung bình mỗi năm, NaMilux đưa ra thị trường bốn triệu sản phẩm.
Vậy tự động hóa có phải là cây đũa thần cho việc tăng sức cạnh tranh, qua giảm giá thành, tăng sản lượng, nâng chất lượng? Cả ông Sáng và ông Dũng, đều cho rằng, công nghệ chỉ là công cụ. “Quan trọng nhất vẫn là xây dựng đề bài có tính khái quát, lựa chọn công nghệ phù hợp,” ông Dũng nói. Ông Sáng ví von, có nhiều người có khả năng sở hữu một chiếc xe đua, song điều đó không bảo đảm họ trở thành tay đua thực sự. “Phải cần có những kỹ năng cần thiết mới đạt kết quả như mong đợi,” ông Sáng nói. 
Kỹ năng cần thiết, trong trường hợp Minh Long, là khả năng hiểu, làm chủ quy trình sản xuất, bảo đảm vận hành ổn định, phát huy các ưu điểm của sản xuất theo dây chuyền, kết hợp với kinh nghiệm tích lũy gần 50 năm sản xuất gốm sứ. Ông Sáng cho biết, ban đầu họ cũng nghĩ chỉ cần tuyển dụng nhân lực am hiểu cơ điện tử, tự động hóa. Quá trình vận hành cho thấy, họ cần kết hợp đội ngũ vận hành máy với người lao động có kinh nghiệm, am hiểu ngành gốm sứ. “Những lao động chủ chốt ở Minh Long có nhiều người trên 20 năm kinh nghiệm, gắn bó với công ty,” ông Sáng cho biết, giọng tự hào. 
Ở NaMilux, theo ông Dũng, những điều cần thiết được hiểu là một loạt các yếu tố quan trọng như sử dụng công nghệ của nước nào, tự động hóa toàn bộ hay công đoạn nào, con người vận hành và tính đồng bộ. Trải qua bốn đời công nghệ, từ sử dụng dây chuyền cũ, dây chuyền Trung Quốc, Đài Loan, hiện tại ở nhà máy rộng 20 ngàn m2 đặt tại khu công nghiệp Tân Bình (TP.HCM) của NaMilux sử dụng dây chuyền sản xuất của Nhật, Hàn Quốc. 
Bên cạnh các lợi ích về chất lượng, chi phí cạnh tranh, dây chuyền sản xuất tự động hóa cũng có các bất lợi. Theo ông Sáng, trong ngành gốm sứ, nhược điểm của dây chuyền tự động là thay đổi sản phẩm sẽ phải thay đổi quy trình, nên mất thời gian hơn. Cả ông Sáng và ông Dũng đều cho rằng, vận hành dây chuyền tự động đòi hỏi doanh nghiệp phải có được thị phần, thị trường đủ lớn. 
Trong tương lai, theo ông Sáng, Minh Long nghiên cứu áp dụng hai dây chuyền tự động. Không xác định mốc thời gian cụ thể, ông Sáng cho biết, “thời gian chờ phụ thuộc vào việc xây dựng quy trình chuẩn.” Đầu tư vào sản xuất với trình độ, năng lực phát triển qua nhiều giai đoạn, ông Dũng nhận xét: “Kiên trì làm, đến lúc nào đó sẽ có chỗ đứng.” 
Đi tìm đũa thần - ảnh 4