Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 1

ùa thấp điểm tại nhà máy An Phú (huyện Hóc Môn, TP.HCM) của công ty May Sài Gòn, không khí làm việc sôi động hơn hẳn các năm trước. Số lượng đơn hàng đặt may quần áo trong sáu tháng đầu năm nhiều hơn. Ước tính, họ thu về thêm 100 tỉ đồng doanh số so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đơn hàng tăng, số lượng công nhân làm việc trong nhà máy không tăng, thậm chí có xu hướng giảm dần. Trong vài năm qua, mỗi năm họ giảm 5% số lượng công nhân. Đây là chủ trương “chuyển từ thâm dụng lao động sang thâm dụng đầu tư,” theo ông Nguyễn Ân, tổng giám đốc công ty May Sài Gòn.

Dệt may vốn là một ngành có truyền thống sử dụng lượng lao động cao, đóng vai trò xuất khẩu mũi nhọn. Ngành này mang về 31 tỉ đô la Mỹ cho Việt Nam trong năm ngoái, đứng thứ hai sau điện tử. Khu vực này tạo việc làm cho 2,5 triệu người, theo hiệp hội Dệt may Việt Nam. 80% trong số đó là phụ nữ. Trong một thập kỷ qua, cơ cấu kinh tế Việt Nam có nhiều thay đổi, kéo theo sự dịch chuyển lao động giữa các ngành nghề, tạo ra tình trạng khan hiếm lao động tại 6.000 công ty dệt may Việt Nam. Phần lớn trong số các doanh nghiệp này đang gia công cho các thương hiệu thời trang quốc tế. Để giải quyết việc thiếu hụt lao động, một số công ty như May Sài Gòn đã tự động hóa, tăng năng lực sản xuất của các nhà máy, thay vì mở nhà máy mới và tuyển thêm lao động.
Vài năm qua, ông Ân có những kỳ nghỉ Tết yên ả do không phải lo lắng về việc thiếu hụt lao động sau mỗi kỳ nghỉ Tết. Nỗi lo mới của ông: làm sao để tăng năng suất của 4.300 lao động đang có? Ông Ân chia sẻ, vài năm trước, khi May Sài Gòn mở xí nghiệp mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, xí nghiệp trả lương mỗi tháng 2,5 triệu đồng cho công nhân. Sau đó, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng mở nhà máy may bên cạnh, trả lương 3,5 triệu đồng/tháng/công nhân, khiến họ phải tăng lương để giữ chân lao động. Khi một công ty khác mở khu du lịch lớn gần xí nghiệp của May Sài Gòn với mức phụ cấp 5 triệu đồng/tháng, cho nhân viên đi đào tạo về ngành dịch vụ, khiến công ty này tiếp tục nâng thêm lương cho lao động của họ.
“Rủi ro lớn nhất của ngành may hiện nay là lao động,” ông Ân nhận xét. “Công nhân giờ thích làm dịch vụ, vào siêu thị ngồi chứ không thích ngồi may”. Sự dịch chuyển lao động ngành may đang có xu hướng đổ về các lĩnh vực mới hấp dẫn hơn như dịch vụ bán lẻ, khách sạn, du lịch, giải trí, logistics. Chưa kể, xu hướng tăng giá nhân công tại Việt Nam do việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu và thay đổi về bảo hiểm xã hội diễn ra theo quy định của luật pháp. Điều này khiến thị trường lao động Việt Nam càng mất dần sức cạnh tranh so với các quốc gia khác. Báo cáo của Business Monitor International về rủi ro thị trường lao động trong quý 3 năm ngoái chỉ ra, Việt Nam xếp thứ 14 trong 18 nước châu Á về rủi ro thay đổi chi phí lao động. Đối với ngành dệt may, lương lao động trung bình ở Việt Nam do tổng liên đoàn Lao động Việt Nam công bố là 4,3 triệu đồng (tương đương 190 đô la Mỹ/tháng), cao hơn mức lương lao động trung bình ở Campuchia, mức năm 2016 là 140 đô la Mỹ/tháng.
Lãnh đạo May Sài Gòn sớm nhận ra, muốn tồn tại, phải nỗ lực tăng năng suất. Vị chủ tịch 65 tuổi từng đi tu nghiệp về quản lý chất lượng toàn diện tại Nhật đã tìm hiểu và áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn LEAN và phương pháp quản lý 5S của Nhật vào nhà máy may An Phú tại TP.HCM năm 2013.

 

Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 2

 

Theo chia sẻ của ông Ân, đầu tiên, May Sài Gòn đào tạo cho người lao động hiểu các mô hình hoạt động mới này để chuẩn bị làm quen với guồng máy lao động nhanh hơn. Mỗi người lao động có 24 giờ đào tạo mỗi năm. Công ty đồng thời cử nhân viên nghiệp vụ tham gia các khóa đào tạo bên ngoài để nâng cao kỹ năng làm việc trong điều kiện mới. Sau đó công ty sàng lọc và sắp xếp hợp lý hoạt động của các khâu trong nhà máy. Nhà máy An Phú được quy hoạch lại theo hình chữ U. Phía bên tay trái nhìn từ cổng vào là kho nguyên phụ liệu. Nguyên phụ liệu từ kho chuyển sang bộ phận thiết kế, rập (rập là mẫu thiết kế chuẩn được cắt sẵn trên khuôn, dùng để sản xuất hàng loạt) và cắt, quy hoạch ở khu chính diện cổng ra vào. Sau đó, các thành phần của sản phẩm được chuyển sang bộ phận may và đóng gói ở khu vực phía bên phải cổng ra vào, tiện cho việc đưa lên xe xuất hàng. “Khâu nguyên liệu phải dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, không bị ảnh hưởng chất lượng. Nếu nhân viên kho nghỉ, người khác vào lấy ra dễ dàng. Khâu đóng gói quy hoạch dựa trên mã hàng. Ngày xưa mình xây nhà máy lên thôi chứ không biết bố trí, phân bổ diện tích sao cho hợp lý,” ông Ân chia sẻ.
Nhà máy An Phú hiện đang sản xuất quần áo thể thao hoạt động trong các điều kiện khắc nghiệt như dưới nước, khu vực có tuyết, nên sản phẩm có lượng chi tiết phức tạp từ 200 – 300, gấp 4 – 5 lần sản phẩm thể thao thông thường, cho các hãng Decathlon (Pháp), Columbia, Cutter&Buck (Mỹ). Bên cạnh cải tiến hệ thống quản trị sản xuất tinh gọn, May Sài Gòn đầu tư các thiết bị tự động hóa, để giảm bớt việc sử dụng nhiều lao động ở các khâu rập, cắt. Các chuyển biến này dần dần mang đến hiệu quả. Ví dụ như khâu cắt vốn sử dụng nhiều lao động cơ bắp để ấn 4 lớp gòn lớn dùng làm lớp giữ ấm bên trong quần áo, sau đó dùng sức người để cắt và gọt thêm một lần nữa sau khi may vào vải. Lắp đặt máy cắt FK của Ý, May Sài Gòn cử hai kỹ thuật viên vận hành có thể cắt một lần được 100 lớp, phục vụ cho 20 chuyền may so với 12 chuyền may trước khi tự động hóa.
Ông Ân chia sẻ, so với năng suất trung bình của ngành may Việt Nam 15 đô la/người/ngày, nhà máy An Phú trong khuôn viên 12.000m2 hiện có năng suất trên 20 đô la/ngày/người. Một số chuyền may đạt 30 đô la/ngày/người. Kết quả, thu nhập bình quân người lao động tại May Sài Gòn được tăng đều hằng năm, hiện 10 triệu đồng/người/tháng, nằm trong nhóm các doanh nghiệp trả lương cao. Năm 2014, nhà máy được hãng Columbia Sportswear tặng cúp Performance Excellence (Thể hiện Xuất sắc) vì thành tích nổi trội về chất lượng, thời gian giao hàng. Sau đó, họ trở thành một trong hai đơn vị cung cấp hàng cho Columbia trên toàn cầu được chọn làm thí điểm chương trình phát triển mẫu, trực tiếp làm việc với văn phòng Columbia ở Mỹ mà không cần thông qua văn phòng đại diện tại Việt Nam như các công ty khác. 

 

Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 3

 

Trong ngành may, thời gian sản xuất là một yếu tố quan trọng đánh giá năng lực sản xuất. Trước xu hướng thời trang thay đổi nhanh chóng, việc chủ động quản lý thời gian sản xuất để kịp thời giao các đơn hàng trong khoảng thời gian càng ngắn là một tiêu chí thể hiện năng suất. Thời gian hoàn tất một đơn hàng trung bình tại Việt Nam hiện nay từ 60 – 90 ngày với sản phẩm quần áo bằng vải dệt thoi và 60 – 70 ngày với vải dệt kim. Tại Việt Thắng Jean, công ty chuyên sản xuất quần áo denim, con số này thậm chí chỉ còn một nửa, dưới 30 ngày nhờ ứng dụng công nghệ vào sản xuất.
Khác với May Sài Gòn làm hàng FOB nâng cao (tự phát triển nguyên phụ liệu) cho các đối tác, Việt Thắng Jean phát triển thương hiệu riêng Sixty-Four (OBM). Họ đã xuất bán tại bảy nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và đang tiến vào Singapore, là số ít các công ty Việt Nam sản xuất và bán sản phẩm thương hiệu của chính họ ở nước ngoài. “Thị trường tốt nhất của chúng tôi tại châu Á. Ở Seoul, chúng tôi đang cạnh tranh với Levi’s, Calvin Klein trong mảng denim,” ông Phạm Văn Việt, chủ tịch kiêm tổng giám đốc công ty Việt Thắng Jean cho biết. Năm ngoái họ xuất khẩu hơn 4 triệu sản phẩm Sixty-Four. 
Với thương hiệu riêng, Việt Thắng Jean chủ động khâu nghiên cứu thị trường, thiết kế và nguyên phụ liệu. Điều này đã giúp họ chủ động luôn cả công nghệ. “Để áp dụng công nghệ, phải chủ động được đầu vào và đầu ra. Đầu tiên, phải có nguồn nguyên liệu phù hợp với công nghệ. Hiện nay có vải Thổ Nhĩ Kỳ, Ý phù hợp với công nghệ sản xuất mới, còn vải Trung Quốc có chất lượng trung bình chưa theo kịp nhu cầu phát triển của công nghệ. Thứ hai, đầu ra phải được đón nhận. Muốn áp dụng công nghệ cao mà khách hàng họ không muốn thì không được. Thay đổi phải được khách hàng và người tiêu dùng đón nhận. Đa số doanh nghiệp Việt Nam chỉ làm các các công đoạn ở giữa sẽ rất khó,” ông Việt nói. Ông cho biết, Việt Thắng Jean không còn là nhà gia công đơn thuần mà đã chuyển sang các khâu mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn từ 10 năm nay.
Mặc dù là quốc gia xuất khẩu may mặc thứ ba thế giới nhưng một nửa các công ty may Việt Nam vẫn đang thực hiện phương thức sản xuất đơn giản nhất là cắt may gia công (CMT) có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi dệt may. Chỉ có 5% tiến lên làm được hàng theo phương thức ODM (chủ động nguyên phụ liệu và tham gia thiết kế), theo hiệp hội Dệt may Việt Nam. Nguyên nhân chính là Việt Nam không có nguyên phụ liệu nội địa. Hai đơn vị hiếm hoi có chuỗi sản xuất khép kín sợi – dệt – nhuộm – may, đáp ứng được yêu cầu “từ sợi trở đi” là công ty quốc tế Phong Phú và công ty May Thành Công, theo hiệp hội Dệt may Việt Nam. “Vấn đề chính của công nghệ 4.0 là liên kết chuỗi,” theo ông Việt, “các công ty Việt Nam chưa liên kết được chuỗi dệt may”.

 

Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 4

 

“Định hướng chiến lược ngành dệt may phải từ 10-20 năm trước. Công nghệ phải đi trước 5 năm,” ông Việt chia sẻ. Sau không ít lần thất bại, ông Việt cho hay, Việt Thắng đã ứng dụng thành công công nghệ vào sản xuất. Đầu tiên, công ty mất 2 năm xây dựng bộ phận nghiên cứu và phát triển. Sau đó họ mất thêm 4 năm để tổ chức nghiên cứu thị trường, thiết kế và đưa sản phẩm ra thị trường trước khi ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Nhờ sản xuất vải jean bốn chiều, Việt Thắng Jean có thêm khách hàng mới từ Canada. Ngoài ra, công ty còn đang sản xuất cho Tom Tailor của Đức, Uniqlo của Nhật Bản…
Công ty Việt Thắng Jean hiện có ba nhà máy, trong đó nhà máy mới nhất tại Nhơn Trạch (Đồng Nai) tự động cao nhất, hầu hết các công đoạn từ wash, xử lý laser, chà xù trên sản phẩm jean và một phần ở công đoạn may. “Một chiếc máy wash thay được 36 người/ca,” ông Việt nói. Họ cũng ứng dụng 5S và công nghệ laser giúp tăng tính chính xác và tính thẩm mỹ các viền, hình ảnh trên quần áo denim. Nhà máy không sử dụng hóa chất nên không gây tác động đến môi trường. Ở khâu may, là khâu thường thâm dụng lao động nhiều nhất, cũng đã tự động hóa một phần. Các chi tiết quần áo sau khi được cắt sẽ được kẹp vào một hệ thống chuyền chạy xung quanh khu vực may. Công nhân ngồi tại chỗ nhận sản phẩm, thực hành đúng thao tác trong một lượng thời gian nhất định. Sau khi một người làm xong thì chuyền tiếp tục di chuyển chạy sang chỗ công nhân may khác, không có động tác dư thừa. Ông Nguyễn Tấn Thành, tổng giám đốc công ty cổ phần công nghệ Nhất Tín chuyên cung cấp các giải pháp tự động hóa nhận xét, hiện chỉ vài công ty Việt Nam sử dụng chuyền may.

 

Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 5

 

Trước đây, để làm ra được 10 ngàn sản phẩm mỗi ngày, một nhà máy như của Việt Thắng Jean cần khoảng 2.500 công nhân, theo ông Việt. Nhà máy này hiện tại chỉ có 800 công nhân, nhiều người trong đó là các chuyên viên kỹ thuật đứng máy. Nhà máy theo công nghệ sản xuất tự động hóa này, theo ông Việt đã giúp tăng năng suất lao động của họ lên gấp đôi: “Trước đây một chuyền 53 người sản xuất 1.200 sản phẩm/ngày. Hiện nay là 2.400 sản phẩm/ngày”. Tháng 9.2018, công ty dự kiến triển khai việc theo dõi hệ thống sản xuất thời gian thực để khách hàng có thể theo dõi từ xa. Việc này giúp dữ liệu sản xuất, nguyên liệu được thông suốt từ nhà cung ứng cho tới khách đặt hàng, phù hợp với xu hướng tiêu dùng sản phẩm thời trang thay đổi ngày càng nhanh hơn.
Thách thức trong ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở các công ty dệt may lớn, theo ông Nguyễn Tấn Thành, là tư duy của nhà lãnh đạo. Ông Thành nói: “Tôi nghĩ, tiềm lực tài chính các doanh nghiệp không phải không có. Mỗi năm doanh nghiệp chia lợi nhuận bình quân vài trăm tỉ đồng. Vấn đề là tư duy đường lối và cách họ đi thế nào. Họ có cảm thấy cần và có quyết định đầu tư hay không. Ai cũng nghe nói về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, về tự động hóa, rô bốt. Nhưng nghe xong để đó chứ không thực hiện”. Ông nhận định, xu hướng tự động hóa thay thế dần con người trong ngành may mặc đang diễn ra: “Con người có lúc khỏe, có lúc không khỏe, tâm trạng thay đổi dẫn đến năng suất, chất lượng khác nhau. Khi có tự động hóa, chất lượng đảm bảo đồng đều, chính xác”.
Công nghệ 4.0 được dự báo là một động lực thúc đẩy việc sản xuất hàng may mặc dịch chuyển sang quốc gia khác nhờ chi phí rẻ hơn, đồng thời nó sẽ triệt tiêu thâm dụng lao động. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ra cảnh báo, 86% người lao động Việt Nam trong hai ngành dệt may và da giày có thể đối mặt với nguy cơ mất việc làm cao do tự động hóa và robot trong các dây chuyền sản xuất. Tại Mỹ và Nhật Bản, đã có những nhà máy may sử dụng rô bốt vận hành. Ông Việt cho biết, có hãng thời trang thể thao của Mỹ đã quay trở lại thị trường tiêu thụ của họ, dùng rô bốt và công nghệ cao để sản xuất nhanh hơn. Ngành may Việt Nam có bỏ lỡ cơ hội tạo sự thay đổi lớn trước con tàu 4.0 này? Các nhà quản lý đứng đầu của công ty Việt Thắng Jean và May Sài Gòn dự đoán, ngành may Việt Nam có thể tận dụng lao động giá rẻ trong chỉ 5 năm nữa. Nếu không kịp thay đổi công nghệ sau khoảng thời gian này, ông Việt cho rằng “sẽ không còn doanh nghiệp may nào đủ sức cạnh tranh trụ nổi ở TP.HCM”.
Dệt may chủ động cắt giảm lao động - ảnh 6