Âm nhạc chưa trở thành ngành công nghiệp thực sự ở Việt Nam khi vẫn thiếu vắng các yếu tố cơ bản như thị trường biểu diễn và công nghiệp ghi âm. 

Ngày đầu năm 2017, ca sĩ Sơn Tùng M-TP tung ra video âm nhạc “Lạc trôi”, dự án âm nhạc đầu tiên của anh sau khi tách ra hoạt động độc lập. Ngay lập tức “Lạc trôi” đạt bốn triệu lượt xem trên Youtube chỉ sau một ngày ra mắt. Cơn sốt vẫn chưa dừng lại ở đó. Hai tuần sau khi ra mắt, ca khúc này đạt gần 40 triệu lượt xem. Trước đó, trong năm 2016, khi vẫn còn thuộc quyền quản lý của công ty Thế giới Giải Trí (Wepro Entertainment JSC), ca khúc “Chúng ta không thuộc về nhau” của Sơn Tùng M-TP cũng đứng đầu trong những video âm nhạc được xem nhiều nhất trên Youtube năm 2016, với hơn 85 triệu lượt xem.

Cùng với Sơn Tùng M-TP, danh sách những ca sĩ trẻ của Việt Nam thành công năm 2016 còn có những cái tên như Đông Nhi, Noo Phước Thịnh, Tóc Tiên hay Khởi My. “Thị trường giải trí Việt Nam năm 2016 có dấu hiệu chứng tỏ sự hưng thịnh và tốc độ phát triển bằng mấy năm cộng lại,” Nguyễn Quang Huy, giám đốc điều hành Wepro nhận định. “Nhưng đó chỉ là bề mặt thôi, năm vừa rồi ồn ào vì xuất hiện vài nghệ sĩ đạt điểm thăng hoa. Còn thị trường mới chớm nở, khá được chăng hay chớ.”

Từng bước chân âm thầm - ảnh 1

“Thị trường giải trí Việt Nam năm 2016 có dấu hiệu chứng tỏ sự hưng thịnh và tốc độ phát triển bằng mấy năm cộng lại,” Nguyễn Quang Huy, giám đốc điều hành Wepro nhận định

Wepro là cái tên khá quen thuộc trên thị trường âm nhạc trong việc đào tạo, giới thiệu và gầy dựng tên tuổi cho những gương mặt từng rất thành công như Ưng Hoàng Phúc, Phạm Quỳnh Anh, nhóm H.A.T, hay gần đây nhất là Sơn Tùng M-TP. Song người sáng lập công ty lại cho rằng thành công của Wepro không đảm bảo rằng Việt Nam có một thị trường âm nhạc đúng nghĩa. “Thị trường âm nhạc hiện nay không có hệ thống, chỉ đầu tư vào sản phẩm mà không đầu tư vào nền tảng, không có những doanh nghiệp phát triển sản phẩm khác như kinh doanh đầu ra cho âm nhạc, tổ chức biểu diễn, xây dựng sân khấu.”

Ở thị trường mà các doanh nghiệp như Wepro cũng như các công ty chung lĩnh vực phải “tự tìm đầu vào, tự sản xuất, tự công bố, tự bán hàng,” không có dữ liệu thống kê về doanh thu thị trường âm nhạc Việt Nam. Theo Huy ước tính, tổng doanh thu năm 2016 của thị trường âm nhạc Việt Nam khoảng 50 triệu đô la Mỹ. Cùng với Wepro, thị trường âm nhạc còn có những công ty biểu diễn và quản lý nghệ sĩ khác như công ty Gương mặt âm nhạc (Music Face) đại diện cho Hồ Ngọc Hà, Phạm Anh Khoa, công ty Văn Production đại diện cho Văn Mai Hương, Sơn Tùng M-TP trước đây, VAA của Ngô Thanh Vân đại diện cho 360daband và diễn viên Johny Trí Nguyễn, Thái Hòa. Nhạc sĩ Trương Đức Trí, nhà sản xuất âm nhạc và giám đốc điều hành Music Face cho rằng, đây là một “thị trường manh mún và bị xé vụn ra trong một miếng bánh rất nhỏ.” Có nhiều công ty mới ra đời, chủ yếu từ những cá nhân sau thời gian làm trong ngành rồi lập công ty quản lý nghệ sĩ.

Tôi tách bạch, không nhập nhằng trong câu chuyện sáng tạo, nhưng tôi muốn biết sau khi sáng tạo xong tôi sẽ dùng vào việc gì.”
— Nguyễn Quang Huy

 

Khác với những thị trường phát triển như Mỹ hay Hàn Quốc, nơi phần lớn nghệ sĩ có đại diện từ các công ty quản lý chuyên nghiệp, cùng với các đối tác lớn như Sony hay Universal, cả Quang Huy và nhạc sĩ Đức Trí đều cho rằng ở Việt Nam, các nghệ sĩ chủ yếu hoạt động độc lập. “Do manh mún, không có một thị trường đúng nghĩa, thiếu vắng những công ty sản xuất, thu âm rất lớn nên chưa có ngành công nghiệp giải trí ở Việt Nam,” nhạc sĩ Đức Trí nói. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất, theo Đức Trí, là năm 2016, hầu như không có một buổi biểu diễn bán vé của riêng ca sĩ nào. “Cứ tổ chức là lỗ nên ca sĩ hiện nay chỉ đi hát sự kiện,” nhạc sĩ Đức Trí nói thêm.

Trong lĩnh vực quản lý tài năng, một tên tuổi nghệ sĩ được tạo dựng cần tới 30 con người đứng sau phục vụ, mà đầu ra không có nhiều. “Việc của Wepro là tìm kiếm tài năng, sản xuất ra sản phẩm âm nhạc, còn đầu ra cho ca sĩ là ‘chạy sô’, thỉnh thoảng có hợp đồng quảng cáo. Kể cả có sản phẩm hay hơn nữa thì chúng tôi cũng không biết bán đi đâu,” Huy chia sẻ về lĩnh vực đầu tiên đưa anh có mặt trong lĩnh vực giải trí. Các nhãn hàng, doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không có nhiều đơn vị đủ khả năng, có chiến lược kinh doanh, tiếp thị bài bản để doanh nghiệp như Wepro “bán hình ảnh,” do họ tạo dựng ra. “Ngành này rất rủi ro vì mọi thứ đều nhỏ lẻ, không có gì chắc chắn. Làm sao tôi làm được dự án kinh doanh khi không dự đoán được sẽ bán sản phẩm ở đâu,” anh phân tích.

Một rủi ro khác với công ty quản lý là hoạt động dựa trên quan hệ quen biết, giữa nghệ sĩ và các nhà sản xuất, quản lý, những thứ không định nghĩa trên góc độ pháp lý. Nói theo cách của nhạc sĩ Đức Trí là “pháp lý chỉ giữ được cái chân chứ không giữ được con tim.” Điều này khiến cho “việc đầu tư vào ngành giải trí nếu trót lọt được là do may mắn thôi,” Huy nhận xét. Yếu tố này khiến cho “rải 10 dự án chỉ cần thắng một là đủ để bù đắp,” nhưng Huy vẫn quyết định phát triển chậm lại, đầu tư vào công đoạn xây dựng hạ tầng để có chiến lược phù hợp hơn. “Hình ảnh và tên tuổi của Wepro trong ngành có thể tốt, nhưng nó đâu có quy ra doanh số được,” anh nói.

“Doanh thu năm 2016 của Wepro khoảng sáu triệu đô la Mỹ, trong đó phần lớn nhất đến từ mảng quảng cáo và tổ chức sự kiện,” Huy cho biết. Bên cạnh lĩnh vực quản lý tài năng, Wepro còn sản xuất phim và tổ chức sự kiện. Theo Huy, dù là mảng khởi đầu khi anh bước chân vào ngành giải trí, “nhưng mảng này hiện nay đóng góp rất ít” do “thị trường không có những điểm sáng như tôi kỳ vọng.” Chính vì vậy mà trong kế hoạch của Huy, mảng quản lý tài năng của Wepro phát triển cầm chừng. “Hiện nay chúng ta không có công ty âm nhạc đúng nghĩa, cũng không có nhiều công ty sản xuất, công ty ghi âm, và công ty phát hành. Do vậy, thị trường âm nhạc không có cái chợ để có thể giao dịch sản phẩm,” Huy nói. Theo anh, thị trường hiện nay đang vận hành theo kiểu “monkey see, monkey do”, tức là bắt chước thị trường nước ngoài.

“Việt Nam chỉ có làng giải trí những năm 1990 thôi, sau đó thì chưa bao giờ có, vì chỉ là những hoạt động đơn lẻ của các cá nhân chứ không có thị trường. Nó chắc chắn không được gọi là ngành công nghiệp”, nhạc sĩ Đức Trí nhận xét. Theo nhạc sĩ Đức Trí, những năm 1990 Việt Nam đã có những công ty nửa nhà nước, nửa tư nhân như Phương Nam Film, với vốn lớn đổ vào làm, nhưng đều đã bỏ cuộc khi thị trường băng đĩa thay đổi sang Internet. “Họ có cố gắng bám theo nhưng không nhận được sự bảo vệ, và khi các sản phẩm bị ăn cắp tràn lan trên mạng thì các nhà đầu tư không dám đầu tư nữa mà ngừng luôn,” nhạc sĩ Đức Trí nói.

Ngành giải trí Việt Nam đang bước sang giai đoạn giao thời, khiến người làm nghề khá hoang mang vì làm ra sản phẩm không biết bán cách nào, mà chỉ là cho không. Mà thường những thứ cho không thì không ai muốn đầu tư.”
— nhạc sĩ Đức Trí

 

Sau trào lưu âm nhạc 2.0 chuyển từ nghe đĩa sang Internet, thế giới đang dịch chuyển sang âm nhạc 3.0, người dùng có thể nghe nhạc trực tuyến trên nền Internet (media streaming) chứ không cần tải xuống nữa, đồng thời thông qua truyền thông xã hội, nghệ sĩ có thể nhắm đến đúng đối tượng người nghe dễ hơn, và lan truyền nội dung nhanh chóng hơn. Đây là thời đại của những người nổi tiếng chỉ sau một đêm. “Chúng ta có thị trường 90 triệu người, gần 40 triệu người xài thiết bị di động, vì vậy để có 10 triệu lượt xem không có khó,” Huy nói. “Ngành giải trí Việt Nam đang bước sang giai đoạn giao thời, khiến người làm nghề khá hoang mang vì làm ra sản phẩm không biết bán cách nào, mà chỉ là cho không. Mà thường những thứ cho không thì không ai muốn đầu tư,” nhạc sĩ Đức Trí phân tích.

Từng bước chân âm thầm - ảnh 2

“Ngành giải trí Việt Nam đang bước sang giai đoạn giao thời, khiến người làm nghề khá hoang mang vì làm ra sản phẩm không biết bán cách nào, mà chỉ là cho không. Mà thường những thứ cho không thì không ai muốn đầu tư,” nhạc sĩ Đức Trí phân tích.

Cao lớn, với mái tóc luôn húi cua, Nguyễn Quang Huy là người khá thẳng thắn, thậm chí đến mức thô ráp. Tự nhận là người có “năng lực tư duy kinh doanh khác biệt và luôn tìm nhu cầu thị trường chưa nói ra,” Huy hào hứng kể về thành công đầu tiên của mình với Ưng Hoàng Phúc. “Những năm 2000 ở Việt Nam chưa có nghề quản lý ca sĩ, và tôi nhìn thấy nhu cầu cần thần tượng của giới trẻ,” Huy kể. Đầu năm 2002, anh thu âm đĩa đầu tiên “Thà rằng như thế” cho Ưng Hoàng Phúc và đem đi chào hàng ở nhiều đơn vị phát hành, nhưng “không ai muốn phát hành vì không biết đây là nhạc gì và ca sĩ nào mới thế.” Tin chắc sẽ thắng, Huy tự phát hành và tổ chức biểu diễn cho Ưng Hoàng Phúc. “Lúc đó ca sĩ hạng A bán khoảng 10 ngàn đĩa trong ba tháng, tôi bán 5.000 đĩa trong hai ngày, 15 ngàn đĩa trong ba tuần,” Huy nhớ lại. Album này bán được 55 ngàn đĩa, “một thành công ngọt ngào,” theo công bố của Huy.

Thấy “âm nhạc mông lung như một trò đùa,” năm 2013, Huy tập trung vào sản xuất phim. Cách thức của anh là tìm, phát hiện nhu cầu của thị trường, rồi mới xây dựng kịch bản. “Giới làm phim kêu tôi là con buôn. Có thể tôi rất cô đơn nhưng tôi yêu sự cô đơn đó. Chúng ta không thể mãi ngây thơ, mơ mộng được, chúng ta phải dự đoán được thị trường để thắng. Để nuôi được nghệ sĩ thì phải có con buôn,” anh nói. Vì vậy mặc dù suất đầu tư cho làm phim lớn hơn âm nhạc, nhưng dự án phim “Thần tượng” vẫn mang lại doanh thu một triệu đô la Mỹ, và dự án phim “Chàng trai năm ấy” mang về ba triệu đô la Mỹ doanh thu cho Wepro. “Xu hướng tiêu dùng, cơ cấu nền kinh tế quyết định đến xu hướng giải trí. Tôi tách bạch, không nhập nhằng trong câu chuyện sáng tạo,  nhưng tôi muốn biết sau khi sáng tạo xong tôi sẽ dùng vào việc gì,” anh chia sẻ.

Xuất thân từ gia đình có cha là giảng viên Nhạc viện Hà Nội, mẹ làm trong hãng phim Tài liệu và Khoa học trung ương, Nguyễn Quang Huy kiếm tiền bằng chơi keyboard cho ban nhạc năm 13 tuổi, rồi bắt đầu sáng tác nhạc năm 16 tuổi. 18 tuổi anh chuyển sang làm quay phim. Bước chuyển này giúp anh tìm ra cơ hội mới. Trong chuyến đi Hàn Quốc quay phóng sự cho diễn viên Ahn Jae Wook và được làm việc cùng người quản lý của diễn viên này, Huy quyết định trở thành người quản lý nghệ sĩ. Anh dùng 17 triệu đồng để mở công ty Wepro năm 2001. Gặt hái nhiều thành công với những cái tên như Ưng Hoàng Phúc, Phạm Quỳnh Anh, nhưng đến nay, Huy muốn xây dựng một thị trường kinh doanh nghệ thuật chuyên nghiệp. Bước đầu tiên, theo Huy, phải loại bỏ “văn hóa bạn bè” trong quan hệ giữa nhà quản lý và nghệ sĩ. Huy nói: “Không có kết quả to lớn nào xuất phát từ sự xuề xòa, đó chỉ là may mắn.”

Sau gần 25 năm hoạt động trong ngành giải trí, nhạc sĩ Đức Trí nhận xét: “Ngành này sẽ thay đổi nhưng tôi không biết nó đổi như thế nào, vì thị trường này không theo quy luật nào cả, nó bẻ hướng rất ngẫu nhiên.” Lý do, theo tác giả của Khi giấc mơ về là vì các nhà sản xuất âm nhạc Việt Nam không biết cách làm kinh doanh. “Nên 10 năm trở lại đây ít sản phẩm giá trị vì không bán được, và đáng tiếc là trước giờ các nhà sản xuất không ngồi lại với nhau tìm tiếng nói chung để bảo vệ cho mình, mà mọi người đều bị chán nản và bỏ cuộc,” anh chia sẻ.

Còn với Huy, cuộc dạo chơi 15 năm với nghệ thuật cho anh nếm trải cả thành công và thất bại. Tự nhận “rất ngu dại nếu nghĩ cái gì mình cũng làm được và để dòng tiền chạy lung tung,” anh xác định giá trị cốt lõi của Wepro là tập trung làm nội dung, làm phim nhưng không xây rạp, làm nhạc nhưng không làm nền tảng. “Bây giờ tôi muốn dựng lên một siêu sao, một hệ sinh thái, một thế hệ tiếp theo. Việc thay đổi thị trường sẽ thú vị hơn, và điều đó tôi tâm huyết hơn,” Huy chia sẻ.