Đi tìm chìa khóa cho nông nghiệp công nghệ cao - ảnh 1

ường dẫn đến trang trại Ea Súp 1 và Ea Súp 2 (huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk) gồm hơn 30km xuyên rừng quốc gia Yok Đôn, dọc hai bên con đường đất hẹp là những hàng cây thưa cành, khẳng khiu thuộc họ dầu, đặc trưng của hệ sinh thái rừng khộp đang chớm mùa thay lá. Hơn 180 héc ta của hai trang trại thuộc dự án “Liên kết đầu tư trồng và phát triển ca cao bền vững tại khu vực thuộc khu kinh tế quốc phòng huyện Ea Súp” của công ty Ca cao Intercontinental (CIC) được trồng ca cao xen chuối, kết hợp tầng cây che bóng, chắn gió gồm muồng đen, keo dậu và muồng hoa vàng. Trong khi chuối đã sang đời F3, phần lớn ca cao đang ở năm thứ hai, cây sinh trưởng tốt và ra cơi lá mới đều đặn sau mỗi 4 - 6 tuần, cây chết được trồng thay thế ngay lập tức để đảm bảo độ đồng đều.

“Ở đây, ngoài CIC, không ai dám trồng cây vào mùa khô,” ông Đinh Hải Lâm, tổng giám đốc CIC nói. Trên vùng đất được coi là bán sa mạc vốn không thuận lợi cho cây ca cao, từ tháng 7.2016 đến nay, CIC bước đầu chứng tỏ cây ca cao có thể sinh trưởng và phát triển, với phương pháp canh tác mới, dựa trên các tiến bộ khoa học, công nghệ.

Ea Súp, vùng có diện tích rừng khộp lớn nhất cả nước, không có điều kiện thuận lợi để trồng ca cao. Trong khi ca cao thích hợp trồng trên loại đất có tầng canh tác dày, thoát nước tốt và giàu dinh dưỡng, tầng canh tác ở đây rất mỏng sau khi trải qua hàng triệu năm bị bóc mòn, đất lại pha nhiều cát với tỉ lệ sét cao và nghèo hữu cơ. Lượng mưa tại đây thấp nhất khu vực Tây Nguyên nhưng lại dễ bị ngập úng trong mùa mưa. Mùa khô kéo dài với nhiệt độ cao, gió thổi mạnh, lượng bốc thoát hơi nước lớn nên không cây trồng nào sinh trưởng được nếu như không được tưới nước chủ động. Theo ông Lâm, hầu hết các doanh nghiệp nông nghiệp đầu tư vào Ea Súp đều thất bại khi giữ phương pháp canh tác truyền thống, dù đầu tư hàng chục tỉ đồng.

Những yếu tố về thổ nhưỡng và khí hậu ở Ea Súp ít nhiều tương đồng với Israel, đất nước với hơn 60% diện tích là sa mạc trong khi phần còn lại là đất khô cằn hoặc bán khô cằn, nơi ông Đinh Hải Lâm từng có thời gian học tập và làm việc vào năm 2001. Khoảng thời gian lao động và sinh hoạt cùng người dân địa phương tại kibbutz (một loại hình hợp tác xã) đã ít nhiều truyền cho ông tinh thần “chutzpah” – “cả gan” – đặc trưng của người Do Thái. Trước những rủi ro dễ thấy nếu đầu tư vào Ea Súp, người đàn ông theo học chuyên ngành trồng trọt và có hơn 10 năm kinh nghiệm trong ngành ca cao nhìn thấy những thuận lợi của địa hình bán bình nguyên nơi đây, như đất đai bằng phẳng, thuận lợi cho sử dụng cơ giới hay nguồn nước tưới sẵn có, thích hợp để triển khai công nghệ cao trên quy mô lớn. “Nếu thành công, có thể mở khóa được giá trị của hàng ngàn héc ta đất vùng bán sa mạc,” ông Lâm nói. “Đó là suy nghĩ lớn nhất của tôi ngày đó.”  

Đi tìm chìa khóa cho nông nghiệp công nghệ cao - ảnh 2

Để trồng ca cao trên diện tích lớn tại địa bàn gần như chỉ đủ điều kiện trồng cây ngắn ngày, vào mùa khô để chống hạn, cây trồng được ông Lâm áp dụng chế độ tưới nước 2 - 3 lần mỗi ngày (thay vì 10 - 20 ngày một lần trong canh tác truyền thống), chia ra ngày và đêm, mỗi lần kéo dài từ 30 - 60 phút tùy theo giai đoạn phát triển của cây. Chế độ tưới chậm này hạn chế nước chảy tràn ra khỏi vùng rễ do đặc thù thấm chậm của đất, đồng thời tránh khung giờ cao điểm sử dụng điện. Mặc dù được tưới hằng ngày nhưng khu vực trồng cây hoàn toàn khô ráo do nước được tưới thẳng tới gốc theo phương án tiết kiệm mà hiệu quả.

“Trong khi với điều kiện canh tác thông thường, bà con chỉ bón phân 3 - 4 lần một năm, cây trồng ở đây được tôi cho ‘ăn’ cả 365 ngày, kể cả cây che bóng, chắn gió,” ông Lâm cho biết. Khối lượng phân được ông chia nhỏ và bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt nhằm tăng hiệu năng sử dụng phân bón vì hạn chế được thất thoát do rửa trôi. Đồng thời, phân đạm được bón nhiều hơn vào ban đêm để giảm thất thoát bay hơi. Một số cây ca cao ở đây phát triển vượt bậc kể cả so với điều kiện trồng trọt lý tưởng.

Vào thời điểm CIC tìm kiếm nhà thầu cung cấp giải pháp tưới nhỏ giọt từ Israel cho dự án, và ngay cả hiện tại, Netafim vẫn là cái tên thống trị, hay theo cách nói của ông Lâm, “một mình một ngựa” suốt gần 20 năm. Nhưng ông chọn NaanDanJain, công ty Israel có hơn 80 năm kinh nghiệm về công nghệ tưới. “Tôi muốn đưa vào nhân tố mới để tạo sự cạnh tranh và tăng thêm lựa chọn và lợi ích cho khách hàng,” nguyên giám đốc phát triển ca cao của Mars tại Việt Nam giải thích. Một lý do quan trọng khác khiến ông Lâm chọn công ty có doanh thu 1,25 tỉ đô la Mỹ này là mức độ quan tâm lớn của nó đối với thị trường châu Á. Sau khi ký hợp đồng, ông đạt được thỏa thuận đưa CIC trở thành đại diện của NaanDanJain tại Việt Nam. CIC vừa là nhà cung cấp, vừa là khách hàng lớn của chính mình, đồng thời nối lại mối duyên với quốc gia có nền nông nghiệp công nghệ cao thuộc hàng tốp đầu thế giới sau 15 năm dài.

Đi tìm chìa khóa cho nông nghiệp công nghệ cao - ảnh 3

Sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của NaanDanJain nhập trọn gói từ Israel, hệ thống tưới bao gồm nguồn nước lấy từ sông Ea H’leo và dẫn về hai hồ lắng nằm trong khu canh tác qua hệ thống máy bơm trung tâm. Nước từ hồ lắng được bơm thẳng đến các gốc cây trồng trên toàn bộ diện tích qua hệ thống dây tưới chạy sát mặt đất theo chế độ thích hợp với loại đất khó thấm, ít hữu cơ, bốc thoát nước nhanh vào ban ngày. Hệ thống tưới này có thể lập trình các chế độ tưới và bón phân tự động, tùy chỉnh theo tình trạng của cây, chẳng hạn như điều chỉnh số lần tưới, thời gian tưới, thay đổi khu vực tưới, phát hiện và báo lỗi trong quá trình vận hành… Tất cả đều được điều khiển từ xa và giám sát qua phần mềm quản lý đi theo gói thiết bị cài trong điện thoại di động của ông Lâm, người thường xuyên di chuyển giữa Hà Nội, TP.HCM và Đắk Lắk, cùng các kỹ sư phụ trách tưới.

Trong dàn nhân sự ông Lâm tự hào là “hùng mạnh,” ngoài các chuyên gia đến từ Mars và một số kỹ sư lành nghề từng làm việc cho NaanDanJain ở Israel, có một cố vấn đặc biệt mà ông gọi là thầy, tiến sĩ Phạm Hồng Đức Phước, người đã gắn bó với quá trình phát triển của cây ca cao tại Việt Nam suốt 20 năm qua. Song hành cùng dự án từ những ngày đầu, tiến sĩ Phước nhận định tình trạng phát triển của cây ca cao sau gần hai năm như vậy là đạt yêu cầu. Mùa mưa năm vừa rồi khi cây còn nhỏ, vấn đề chống úng đã được xử lý thành công nhờ kỹ thuật lên liếp tạo mương thoát nước, nhưng sang năm thứ hai khi cây lớn sẽ đặt ra vấn đề khác. “Nếu qua được mùa mưa năm nay có thể xem như dự án đã thành công,” chuyên gia đầu ngành ngoài 60 tuổi, vóc dáng cao và lanh lẹ, người cấp chứng nhận và đặt tên cho tất cả các giống ca cao được trồng ở Tây Nguyên, nói với Forbes Việt Nam. Cũng theo tiến sĩ Phước, trong khi cao su, điều, cà phê, tiêu đã có nhiều mô hình sản xuất tập trung trên diện tích lớn, dự án của CIC nếu thành công sẽ là mô hình trồng ca cao đại điền đầu tiên ở Việt Nam, tạo sự tự tin cho các địa phương chuyển đổi cây trồng sang ca cao cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

Ngành ca cao Việt Nam chưa có doanh nghiệp lớn tập trung đầu tư cả về quy mô và công nghệ vì ngoài yếu tố tư duy chiến lược, nó đòi hỏi chi phí không nhỏ. Ông Lâm cho biết, chi phí đầu tư cho một héc ta ca cao xen chuối từ giai đoạn kiến thiết cơ bản là khoảng 130 triệu đồng cho năm thứ nhất, và đến khi ca cao cho thu hoạch vào năm thứ ba, mức đầu tư cộng dồn là khoảng 200 triệu/ha. Trong đó, riêng hệ thống tưới chiếm gần 1/3 chi phí đầu tư. Chi phí cao như vậy chỉ có khả năng bù đắp nếu chọn loại cây cho giá trị kinh tế tốt như ca cao và trồng trên quy mô lớn.

Theo tính toán của CIC, khi bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định, mỗi héc ta ca cao dự kiến cho năng suất từ 2 - 2,5 tấn, tương đương với doanh thu 120 - 150 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận ước tính đạt trên 70 triệu đồng/ha/năm chưa bao gồm công lao động hoặc trên 40 triệu đồng/ha/năm trong trường hợp khấu trừ công lao động. Toàn bộ diện tích ca cao trồng trong dự án dự kiến sẽ đóng góp vào kinh tế địa phương khoản thu nhập hằng năm khoảng 500 tỉ đồng. Trong khi đó, hiện nay thu nhập từ chuối đang mang lại dòng tiền khá tốt do giá chuối xuất khẩu lên cao, xê dịch ở mức 8 - 12 ngàn đồng một ký. Năng suất chuối đạt khoảng 25 - 30 tấn/ha/năm (tương đương với 50 - 60 tấn/ha khi quy đổi ra mật độ trồng thuần), 70% đạt tiêu chuẩn và đã được xuất khẩu sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên theo ông Lâm, may mắn giá chuối lên cao như vậy không nhiều, nên ở điều kiện hòa vốn, lợi ích tốt nhất từ cây chuối là che bóng, chắn gió và cải tạo cấu trúc đất, đưa hệ sinh thái thay đổi theo hướng tích cực và bền vững.

Mục tiêu lớn của Đinh Hải Lâm khi theo đuổi dự án này là phát triển toàn diện chuỗi giá trị từ khâu sản xuất giống, cung cấp dịch vụ trồng trọt, vật tư đầu vào tới các nông hộ trong liên kết, thu gom sơ chế sản phẩm tập trung và cuối cùng khi vùng nguyên liệu đã hình thành, sẽ xây dựng nhà máy chế biến sâu và xuất khẩu sản phẩm nhão, bơ và bột ca cao. Trong những năm đầu, CIC sẽ xuất khẩu ca cao dạng thô trong bối cảnh chế biến trong nước còn rất ít. Hiện công ty đang triển khai kế hoạch sản xuất socola single origin (socola làm từ hạt ca cao được thu hoạch từ chỉ một nông trại, khu vực hay quốc gia nhất định) bắt đầu từ quy mô nhỏ. Với niềm tin phát triển ngành cần đại điền đi trước, ông chủ trương xây dựng trang trại ca cao tập trung quy mô 1.000 ha của CIC thành đơn vị hạt nhân và biến các nông hộ xung quanh thành mô hình vệ tinh bằng cách cung cấp trang thiết bị, chuyển giao kỹ thuật, đưa các dịch vụ tài chính tới bà con nông dân và giúp họ tiếp cận thị trường. Vừa cung cấp công nghệ vừa đích thân sử dụng, ông cho rằng một khi trang trại lớn chứng minh được thành công và xây dựng được một số mô hình kiểu mẫu tại các nông hộ trung lưu, bà con nông dân sẽ tin tưởng làm theo.

Cuối năm ngoái, những người yêu thích socola được phen lo lắng khi một bài báo từ trang Business Insider cho rằng, đến năm 2050 socola sẽ bị tuyệt chủng do cây ca cao không thể chống chọi lại tác động của biến đổi khí hậu. Thông tin này sau đó đã được các nhà khoa học đính chính, chúng ta vẫn sẽ có socola để ăn trong tương lai xa. Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt ca cao trên thế giới đã sớm được các chuyên gia của Mars dự báo từ vài năm trước. Theo đó, tới năm 2020, nhu cầu tiêu dùng socola sẽ vượt quá nguồn cung ca cao, tạo ra khoảng cách chênh lệch giữa cung và cầu là một triệu tấn. Việt Nam, với sản lượng xuất khẩu ca cao trung bình khoảng 3.000 tấn/năm và tỉ lệ ca cao hương vị tốt đạt 40% theo đánh giá của hội đồng Ca cao quốc tế, mới chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ ca cao thế giới. Vẫn còn nhiều khoảng trống cơ hội cho ngành ca cao trong nước, cho những doanh nghiệp tiên phong như CIC, và cho những cá nhân mong muốn tạo ra cách mạng như Đinh Hải Lâm.

Đi tìm chìa khóa cho nông nghiệp công nghệ cao - ảnh 4